Gia đình bên bị hại cũng ký bản cam kết là chịu mọi việc về sức khoẻ và tinh thần người bị nạn và cam kết không truy cứu gì với em nữa. Nhưng chỉ 3 ngày sau khi hai gia đình không thoả thuận được về tiền bồi dưỡng sức khoẻ cho người bị hại và cả hai gia đình cùng thống nhất là nhờ bên cơ quan pháp luật vào làm việc. Sau 2 ngày gia đình người bị hại lại đòi tiền gia đình em với khoản tiền là 100 triệu đồng nhưng gia đình em không đồng ý và gia đình người bị hại bảo không có thì cho ra pháp luật. 3 ngày sau gia đình người bị hại liên tục điện đòi với số tiền là 60 triệu đồng, không thì cho ra pháp luật. Vậy xin hỏi luật sư đấy có phải là tội tống tiền không? Khi mà khu vực em làm việc phục vụ nhà máy sản xuất có quy định là: khi công nhân nghỉ giải lao hoặc người nào không phận sự không tự ý vào khu vực máy đang làm phục vụ sản xuất. Vậy thưa luật sư đây có phải là tai nạn lao động không? Mong luật sư giải đáp giúp, em xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật dân sựgọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

2. Nội dung tư vấn: 

Thứ nhất, về tội tống tiền, Theo quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội cưỡng đoạt tài sản (tội tống tiền) như sau:

 

Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

Đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Để cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 thì hành vi khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản được thực hiện thông qua các hình thức sau đây:

- Hành vi “đe dọa sẽ dùng vũ lực”; 

- “Có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác” là hành vi đe dọa sẽ gây thiệt hại về tài sản, danh dự, uy tín bằng bất cứ thủ đoạn nào nếu người bị uy hiếp không thỏa mãn yêu cầu về tài sản của người phạm tội. Hành vi này có khả năng khống chế ý chí của người bị đe dọa, mà chưa đến mức làm cho người bị đe dọa bị tê liệt ý chí. Hành vi uy hiếp tinh thần này có thể được thực hiện dưới một trong các dạng:

+ Đe họa hủy hoại tài sản của người bị đe dọa;

+ Đe dọa tố giác hành vi phạm pháp hoặc vi phạm đạo đức của người bị đe dọa;

+ Đe dọa công bố những tin tức thuộc đời tư mà người bị đe dọa muốn giữ kín…  và mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi “đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác” là “nhằm chiếm đoạt tài sản”.

Như vậy, trong trường hợp này, khi xảy ra tai nạn bạn và gia đình người bị tai nạn đã thỏa thuận về khoản bồi dưỡng cũng như tiền viện phí và đã có chữ ký xác nhận của bên kia nên bạn có thể lấy đó làm bằng chứng. Còn việc sau đó gia đình người bị tai nạn liên tục đòi tiền bạn, nếu không sẽ cho ra pháp luật thì hành vi này có thể bị xử lý theo Điều 135 Bộ luật hình sự như trên. Do đó, bạn có quyền yêu cầu các cơ quan pháp luật có biện pháp ngăn chặn và xử lý vì hành vi người này thực hiện.

Thứ hai, về việc đây có phải là tai nạn lao động không thì theo quy định tại khoản 1 điều 12 nghị định 05/2015/NĐ-CP có quy định các trường hợp được xem là tai nạn lao động như sau: 

"Điều 12. Tai nạn lao động và sự cố nghiêm trọng

1. Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động, kể cả trong thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, chuẩn bị và kết thúc công việc tại nơi làm việc".

Như vậy, theo quy định này thì đây là tai nạn lao động, người công nhân này sẽ được hưởng chế độ tai nạn lao động vì đang là giờ nghỉ giải lao. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự