Nhưng từ lúc mà cô em út ly hôn với chồng thì cô đem con gái của mình về cho cha tôi nuôi từ nhỏ đến lớn, còn cô em út bỏ xứ đi làm ăn xa lâu lâu mới về. Trong 2 năm gần đây thì cô về ở nói là chăm lo cho cha già nhưng cô vui thì chẳng nói, buồn thì cô chửi cha tôi không ra gì, thậm chí cha tôi lớn tuổi còn phải tự mình nấu cơm ăn riêng. Giờ cha mất, cô nói là cha ghi di chúc cho nhà cửa cho cô, giấy di chúc không được anh chị em tôi chấp nhận và xã phường chưa xác nhận. Mỗi lần tới ngày giỗ, khi anh chị em tôi về để cúng kiếng thì cô khóa cửa không cho vào hoặc dùng nhiều lời nặng để xúc phạm thậm chí dùng cả vũ lực. Tôi muốn nhờ Luật sư cho ý kiến, nếu anh chị em tôi đưa ra tòa để chia nhà làm 7 phần thì 6 anh chị em tôi dùng 6 phần đó làm nhà từ đường, còn phần của cô em út thì tùy cô sử dụng. Vậy khi ra tòa có cơ hội thắng không ạ? Còn về chi phí kiện tụng như thế nào? Mong luật sư giải đáp thắc mắc cho tôi!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý: 

 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

 Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án

Nội dung phân tích:

Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Di chúc hợp pháp như sau:

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. 

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Việc di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì người lập di chúc phải tự viết tay và ký vào bản di chúc, đồng thời phải tuân theo Điều 653 Bộ luật dân sự: 

Điều 653. Nội dung của di chúc bằng văn bản   

1. Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Di chúc bằng văn bản nếu có người làm chứng thì phải có ít nhất 2 người và người làm chứng không được là người thừa kế trong di chúc hay người thừa kế theo pháp luật, phải ký hay điềm chỉ vào bản di chúc và phải tuân theo điều kiện của di chúc bằng văn bản.

Trong trường hợp của bạn, di chúc của cha bạn nếu không có người làm chứng thì phải tự viết tay, ký vào bản di chúc, tuân theo quy định của trường hợp di chúc bằng văn bản và người lập di chúc phải có đủ điều kiện theo khoản 1 Điều 652 Bộ luật dân sự.

Trong trường hợp di chúc không hợp pháp thì có thể chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Trường hợp gia đình bạn có 7 anh chị em thì có thể phân chia thành 7 phần và mỗi người được hưởng 1 phần. Và sau khi đã chia được di sản thừa kế thì việc sử dụng tài sản thừa kế như thế nào là tùy thuộc vào chủ sở hữu định đoạt.

Về mức án phí dân sự sơ thẩm được quy định tại Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH quy định tại khoản 7 điều 27 như sau:

Mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản, phần di sản mà họ được hưởng, được chia trong trường hợp các bên đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản mà mình được hưởng trong khối di sản thừa kế và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó.

Mức án phí dựa trên giá trị tài sản có tranh chấp được quy định tại Danh mục mức án phí, lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh này:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a) từ 4.000.000 đồng trở xuống

200.000 đồng

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

Sau khi chia di sản xong, bạn có thể gộp 6 phần lại để xây nhà từ đường như mong muốn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật dân sự.