>>  Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn,cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau: 

Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 quy định như sau:

"1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Như vậy, đối với trường hợp các bên thỏa thuận về mức lãi thì lãi suất cho vay không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Vào thời điểm  hình thành mối quan hệ  vay mượn  (năm 2011) , mức lãi suất cơ bản bản đồng Việt Nam mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa ra và áp dụng từ ngày 01/12/2010 là  9%/năm theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010. Theo quy định này thì có thể xác định được mức lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận khi cho vay tiền là:

+ Mức lãi suất năm: 9 x 150% = 13,5%/năm

+ Tương ứng mức lãi suất tính theo tháng: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng.

Như vậy, nếu bạn cho vay 70.000.000 đồng thì tiền lãi 1 năm tối đa bạn nhận được sẽ là 13,5% x 70.000.000 đồng =  9.450.000 đồng

Bạn cho bên kia vay 70.000.000 đồng năm 2011, đến năm 2012 số tiền này đã lên đến 140.000.000 đồng (70.000.000 đồng tiền lãi) là đã vượt quá mức lãi suất  tối đa cho phép của pháp luật.

Về hậu quả pháp lý đối với hợp đồng vay tài sản có mức lãi suất vi phạm pháp luật dân sự:  Nếu trong hợp đồng vay tài sản, các bên có thỏa thuận về mức lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, khi có tranh chấp xảy ra thì Nhà nước không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Tức là nếu các bên khởi kiện ra tòa, tòa án sẽ tuyên vô hiệu đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của ngân hàng và chỉ yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ trả lãi ở mức lãi suất tối đa theo quy định pháp luật (150% lãi suất cơ bản của ngân hàng).

Về chế tài áp dụng đối với hành vi cho vay tài sản với mức lãi suất cao:

Thứ nhất, truy cứu trách nhiệm hình sự nếu " Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm. (Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về Tội cho vay nặng lãi)

Thứ hai, xử phạt vi phạm hành chính:  Điểm d khỏa 3 Điều 11 Nghị định Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình có quy định: \

"Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay."

Trong trường hợp của bạn,  mặc dù hành vi của bạn là cho vay tiền với lãi suất vượt quá quy định cho phép  nhưng  chưa đến mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự (mức lãi suất thấp hơn mười lần mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định)  cho nên sẽ  bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh KHuê