Vợ chồng ông H, bà S đã cầm cố sổ đỏ (của vợ chồng H,S) để đảm bảo trả nợ. Đến hạn, bà S, ông H không thực hiện đúng cam kết nên bà M khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà S, ông H phải trả 150 triệu và tòa án đã thụ lý 10/10/2013 Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, tại các bản tự khai ngày 18/10/2013 và 27/11/2013, phía bị đơn đã thừa nhận số nợ 250 triệu. Nhưng do việc kinh doanh thua lỗ nên không trả nợ đúng cam kết và do hoàn cảnh hiện đang khó khăn nên xin bị đơn cho trả nợ dần, nếu bán được nhà thì trả hết nợ. Quá trình giải quyết, tòa án triệu tập hợp lệ phía bị đơn đến tham gia hòa giải nhưng họ đều vắng mặt.Ngày 08/01/2014, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện bổ sung với yêu cầu bị đơn phải trả tiếp 100 triệu.Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý yêu cầu khởi kiện bổ sung và giấy triệu tập cho ông H, bà S không có mặt, ông H có đến viết bản tự khai vào ngày 22/01/2014 với nội dung thừa nhận vợ chồng ông vẫn còn nợ phía bà M 100 triệu, tổng cộng 2 khoản nợ là 250 triệu nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên xin trả nợ dần.Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, phía bị đơn đều không có mặt nên Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã tiến hành xác minh tại nơi ở cngx như chính quyền địa phương thì được biết hiện hà của ông H, bà S đã cho vợ chồng ông Đ, bà K thuê để ở. Bà S, ông H và các con hiện đã vào Nam sinh sống từ đầu năm 2014, còn làm gì, ở đâu thì gia đình không được biết. Phía công an huyện Phong Điền cũng cho biết tuy vợ chồng bà S, ông H chưa chuyển hộ khẩu khỏi địa phương nhưng qua xác minh thì vợ chồng đã chuyển vào Nam sinh sống từ đầu năm 2014, không rõ địa chỉ. Mặc dù phía bị đơn đã biết tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án nhưng đã cố tình giấu địa chỉ nên tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo quy định.Tại phiên tòa sơ thẩm, phía nguyên đơn vẫn yêu cầu Tòa án buộc phía vợ chồng bà S, ông H phải trả cho nguyên đơn số tiền 250 triệu và tiếp tục giữ nguyên quyết định phong tỏa tài sản để đảm bảo thi hành án.Phía người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Ông Đ, bà K có ý kiến: vợ chồng ông bà thừa nhận ký hợp đồng thuê nhà ngay tình, thời hạn thuê 5 năm, đã thanh toán đủ tiền.Bản án sơ thẩm đã tuyên:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, buộc vợ chồng ông H và bà S phải trả cho bà M và ông T 250 triệu

2. Tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 34/2014/QĐ-BPKCTT ngày 13/01/2014 của TAND huyện PĐ về việc phong tỏa tài sản là quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí bảo đảm, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án và nghĩa vụ chậm thi hành án cho các bên đương sự theo quy định pháp luật. Ngày 10/07/2014, bà M kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho bán đấu giá ngôi nhà của bà S, ông H để buộc trừ nợ cho vợ chồng ông bà.Cho em hỏi, yêu cầu kháng cáo của bà M có được Tòa phúc thẩm chấp nhận không ạ? Tại sao? Em cảm ơn nhiều!

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Y.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục  Tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê. 

Có thể yêu cầu tòa bán bán đấu giá nhà để thanh toán nghĩa vụ ?

 

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự  trực tuyến : 1900.6162.

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật Thi hành án dân sự 2008

Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung 2014 

Nội dung phân tích :

Chúng tôi xác nhận lại yêu cầu khởi kiện vụ án sơ thẩm của bà M như sau :

- yêu cầu vợ chồng H,S trả số nợ 250 triệu

- Yêu cầu phong tỏa tài sản để đảm bảo thi hành án

Và tòa án đã ra quyết định như sau :

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, buộc vợ chồng ông H và bà S phải trả cho bà M và ông T 250 triệu

- Tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 34/2014/QĐ-BPKCTT ngày 13/01/2014 của TAND huyện PĐ về việc phong tỏa tài sản là quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án.

Như vậy tòa án đã giải quyết theo yêu cầu của bà M, việc bà M yêu cầu kháng cáo bản án là không có căn cứ bởi đương sự chỉ có thể kháng cáo trong phạm vi yêu cầu mà thôi. Trong trường hợp này Bà M cần gửi đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự thi hành bản án sơ thẩm.

Căn cứ Điều 66, Điều 67, Điều 95 luật thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án sẽ quyết định việc kê kiên, bán đấu giá nhà.

Điều 66. Biện pháp bảo đảm thi hành án

1. Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự.

2. Người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.

3. Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:

a) Phong toả tài khoản;

b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;

c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản. 

"Điều 67. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ 

1. Việc phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được thực hiện trong trường hợp người phải thi hành án có tài khoản, tài sản gửi giữ. 

2. Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa. Chấp hành viên phải giao quyết định phong tỏa cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án. 

Trường hợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản của người phải thi hành án ở nơi gửi giữ mà chưa ban hành quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong tỏa tài khoản, tài sản đó. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản. 

Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản phải thực hiện ngay yêu cầu của Chấp hành viên về phong tỏa tài khoản, tài sản. Biên bản, quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản trong trường hợp này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. 

3. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa theo quy định của Luật này.”

Điều 95. Kê biên nhà ở

1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.

2. Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.

3. Khi kê biên nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.

Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Việc kê biên nhà ở bị khoá được thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này.

Như vậy sau thời hạn quy định phong tỏa tài sản, cơ quan thi hành án sẽ quyết định việc kê biên tài sản nếu đảm bảo điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 95 Luật thi hành án dân sự. Trường hợp Của ông Đ, bà K áp dụng Khoản 3 Điều 95 Thì nếu chưa hết thời hạn hợp đồng thuê thì vẫn có quyền tiếp tục thuê nhà.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.           

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ