Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty luật Minh Khuê

>>  Luật sư tư vấn pháp luật dân sự 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi thắc mắc về cho Công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật bình đẳng giới năm 2006

2. Nội dung tư vấn:

Căn cứ vào Điều 6 Luật bình đẳng giới năm 2006 về nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới:

"Điều 6. Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới

1. Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

2. Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.

3. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.

4. Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới.

5. Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.

6. Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân."

Từ quy định trên có thể thấy, Nhà nước luôn đề cao vấn đề đảm bảo bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.

Trích dẫn nội dung câu hỏi của bạn: "Gia đình tôi, bố mẹ tôi có 4 người con, trong đó có 3 người con trai và một mình tôi là con gái. Hiện tôi chưa lập gia đình và đang đi làm xa. Gần đây bố mẹ tôi đã chia đất cho các anh và đất đã được cấp bìa sổ đỏ riêng xong xuôi rồi trong khi tôi không được chia cho một mảnh nào hay một chút tài sản nào vì cho rằng tôi là con gái." Như vậy, bố mẹ bạn đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc về bình đẳng giới, có một trong những hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình quy định tại Điều 41 Luật bình đẳng giới năm 2006:

Điều 41. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình

1. Cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.

2. Không cho phép hoặc cản trở thành viên trong gia đình tham gia ý kiến vào việc sử dụng tài sản chung của gia đình, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới.

3. Đối xử bất bình đẳng với các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính.

4. Hạn chế việc đi học hoặc ép buộc thành viên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính.

5. Áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, thực hiện biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành viên thuộc một giới nhất định."

Theo đó, bạn có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới của bố mẹ bạn đến cơ quan có thẩm quyền để được đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của mình (cụ thể là nhằm mục đích có được phần đất của bố mẹ bạn để lại) căn cứ vào Điều 38 Luật bình đẳng giới năm 2006:

"Điều 38. Tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới

1. Cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

2. Việc tố cáo, giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo."

Mặc dù, việc làm của bố mẹ bạn là trái với nguyên tắc bình đẳng giới, nhưng chúng tôi tư vấn cho bạn rằng, việc định đoạt tài sản của bố mẹ bạn hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của bố mẹ bạn. Nếu bố mẹ bạn chỉ cho con trai mà không cho con gái thì đó chính là ý chí của bố mẹ chị - chủ sở hữu tài sản, pháp luật không thể can thiệp vào ý chí, quyền định đoạt của chủ sở hữu được.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về doanh nghiệp và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi vào giờ hành chính ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email  Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900 6162.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ