Thì có các anh công an phường ra bắt và đòi xem giấy tờ. Em xuất trình được giấy đăng ký xe máy của mình. Nhưng công an bắt em xuất trình cả bằng lái. Em không xuất trình do em không tham gia giao thông. Vậy là đúng hay sai ? Khi công an muốn lập biên bản em vi phạm. Em đã lỡ để công an cầm mất giấy đăng ký xe. Và sau khi đó em tranh luận thì em đã vô tình quên mất là giấy tờ đăng ký em đã đưa cho công an. Bây giờ công an đã bắt xe em về phường, và đòi có giấy tờ xe mới trả. Nhưng khi em nói anh công an đó đã cầm giấy tờ xe của em thì anh ấy đã chối, nói không cầm giấy tờ của em ( việc anh công an cầm giấy tờ của em có bạn em đi cùng biết. Em còn biết tên của anh công an đó. Xe của em là đăng ký chính chủ.). Vậy em nhờ anh (chị) tư vấn giúp em phải làm thế nào để em có thể lấy lại được xe của mình ? Giờ công an giữ xe của em mà không hề có biên bản nào.

Em rất mong được sự tư vấn của anh (chị) sớm nhất. Em xin cảm ơn!

Người hỏi: Đinh Đức Ba

Trả lời:

1.Cơ sở pháp lý

-Luật Xử lý vi phạm hành chính của Quốc hội, số 15/2012/QH13;

-Nghị định 171/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

2.Nội dung trả lời

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 171/2013/NĐ-CP:

“2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

g) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường rộng; dừng xe, đỗ xe không sát mép đường phía bên phải theo chiều đi ở nơi đường có lề đường hẹp hoặc không có lề đường; đỗ xe trên dốc không chèn bánh; mở cửa xe, để cửa xe mở không bảo đảm an toàn;”

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 68 Nghị định 171/2013/NĐ-CP:

“5. Trưởng Công an cấp xã trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại các Điểm, Khoản, Điều của Nghị định này như sau:

a) Điểm đ, Điểm i Khoản 1; Điểm g, Điểm h Khoản 2; Điểm b, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm h Khoản 4 Điều 5;”

Căn cứ Điều 56 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012:

“Điều 56. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản

1. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.

Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản.

2. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ của cá nhân vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; chứng cứ và tình tiết liên quan đến việc giải quyết vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định xử phạt; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng. Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt.”

Như vậy trong trường hợp này thì công an phường có thẩm quyền xử phạt. Do bạn không nêu rõ công an xử phạt bạn bao nhiêu nên không thể khẳng định việc không lập biên bản là không đúng nên trong trường hợp này nếu không lập biên bản xử phạt thì bạn sẽ nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ. Vậy trong trường hợp này bạn có thể yêu cầu cơ quan công an cung cấp quyết định trên và bạn tới nộp phạt. Sau đó nộp biên lai nộp phạt và lấy lại xe.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT