Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Căn cứ pháp lý:

Luật xây dựng năm 2003 

Nghị định 64/2012/NĐ-CP về việc cấp giấy phép xây dựng 

II. Nội dung phân tích: 

Do công trình xây dựng năm 2014, tại thời điểm luật xây dựng năm 2003 và nghị định 64/2012/NĐCP vẫn còn hiệu lực thi hành nên xin được áp dụng nghị định 64/2012/NĐ-CP để tư vấn như sau:

Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật theo Khoản 5 Điều 3 Luật xây dựng năm 2003 được hiểu: "5. Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý các chất thải và các công trình khác."

Khoản 2 Điều  2 Nghị định 64/2012/NĐ-CP quy định: "2. Giấy phép xây dựng công trình: Là giấy phép được cấp để xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi và hạ tầng kỹ thuật"

Khoản 1 Điều 3 Nghị định 64/2012/NĐ-CP quy định các trường hợp không cần phải có giấy phép xây dựng gồm:

"Điều 3. Giấy phép xây dựng

1. Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng, trừ trường hợp xây dựng các công trình sau đây:

a) Công trình bí mật nhà nước, công trình theo lệnh khẩn cấp, công trình tạm phục vụ thi công xây dựng công trình chính và các công trình khác theo quy định của Chính phủ được miễn giấy phép xây dựng;

b) Công trình xây dựng theo tuyến không đi qua đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

c) Công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư;

d) Công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình không làm thay đổi kiến trúc các mặt ngoài, kết cấu chịu lực, công năng sử dụng và an toàn công trình;

đ) Công trình hạ tầng kỹ thuật chỉ yêu cầu phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật và nhà ở riêng lẻ tại vùng sâu, vùng xa thuộc khu vực chưa có quy hoạch điểm dân cư nông thôn (quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới) được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt."

Công ty bạn hiện đang thi công Hạ tầng kỹ thuật (san nền, giao thông, cấp thoát nước, điện...) của một dự án đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 và Bản vẽ thi công cũng đã được Sở xây dựng thẩm định phê duyệt. Công trình khởi công năm 2014 và đang thi công. 

Khoản 3 Điều 36 Luật xây dựng năm 2003 quy định về các công trình chỉ cần lập báo cáo kinh tế kỹ thuật gồm:

"3. Những công trình xây dựng sau đây chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật:

a) Công trình sử dụng cho mục đích tôn giáo;

b) Công trình xây dựng quy mô nhỏ và các công trình khác do Chính phủ quy định."

 

Như vậy, nếu dự án của bạn sử dụng cho mục đích tôn giáo hoặc là công trình xây dựng có quy mô nhỏ thì không phải xin giấy phép xây dựng mà chỉ cần lập báo cáo kinh tế  - kỹ thuật.

Nếu không thuộc trường hợp chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật nêu trên thì phải xin cấp giấy phép xây dựng theo quy định.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn pháp luật dân sự