Ra tòa ông T bắt buộc bà Liên phải trả đủ số nợ còn lại là 150 triệu trong một lần, do bà L không có khả năng trả đủ trong một lần nên đã xin trả nợ từ từ, nhưng ông T không chấp nhận và tòa án đã thuận theo ý của ông Tuấn không cho bà Liên trả nợ từ từ. Phán quyết của tòa án có hiệu lực từ ngày 4/7/2011. Ông T đã yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại 7000 mét vuông đất lúa của bà L (Là 7000 mét vuông đất lúa chị của tôi đang cầm cố), sau nhiều lần giảm giá nhưng không có ai đấu giá và vẫn cương quyết không cho bà L trả nợ từ từ nên chấp hành viên đã tiến hành cưỡng chế. Luật sư tư vấn giúp tôi là tòa án giải quyết như vậy có đúng không?  và phần đất lúa 7000 mét vuông chị tôi đã cầm cố sẽ giải quyết như thế nào?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn Luật Dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

 Cưỡng chế đất đai đã cầm cố cho người khác để thi hành án đúng hay sai?

 Luật sư tư vấn Luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 của Quốc hội

Luật số 64/2014/QH13 của Quốc hội : Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự

Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, về việc tiến hành thi hành án của cơ quan thi hành án:

- Điều 75 Luật thi hành án dân sự 2008 có quy định:

"Điều 75. Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp

Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Chấp hành viên yêu cầu mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì tài sản được xử lý để thi hành án theo quy định của Luật này."

- Tại Điểm 33 Luật sửa đổi bổ sung Luật thi hành án sửa dổi, bổ sung Điều 75 Luật thi hành án dân sự 2008 như sau:

Điều 75. Giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án:

1. Trường hợp tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ được khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của Luật này.

2. Trường hợp có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.

Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.

3. Trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết các việc quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật này và khoản 1, khoản 2 Điều này để thi hành án thì không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án.”

Theo đó, trường hợp tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ được khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của Luật này. Đối với trường hợp của bạn, do mảnh đât này  của bà L ( người phải thi hành án) là tái sản đang có tranh chấp tức cầm cố cho chị H. Do đó, Chấp hành viên phải thông báo cho các đương sự  và chị H về quyền được khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ  quan có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, theo thông tin của bạn đã nêu, theo yêu cầu của ông T Tòa án đã tiến hành phát mại miếng đất trên, sau đó là tiễn hành cưỡng chế mà không hề tiến hành thủ tục  như trên. Do đó, Chị H có thể  khiếu nại đối với hành vi này của cơ quan thi hành án theo quy định tại Điều 140 Luật thi hành án dân sự 2008:

Điều 140. Quyền khiếu nại về thi hành án

1. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên như sau:

a) Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

b) Đối với quyết định về áp dụng biện pháp phong toả tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định;

Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

c) Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

d) Đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó.

Trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn khiếu nại.

Lần khiếu nại tiếp theo, thời hiệu là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền.

đối với trường hợp này, tài sản là miếng đất dduàitĐây là một giao dịch dân sự trái pháp luật và không được pháp luật bảo vệ. Do đó, kể cả khi chị bạn có kiện ra tòa giao dịch này cũng đều bị coi là "Giao dịch vô hiệu", đương nhiên bị Tòa án hủy hợp đồng và các bên sẽ hoàn trả cho  nhau những gì đã nhận. 

 Thứ hai, về tính hợp pháp của giao dịch cầm cố trong trường hợp này:

Điều 326 Bộ luật dân sự 2005 có quy định: "Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự."

Bên cạnh đó, theo quy định tại điều 327 về hình thức cầm cố "Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. " Đồng thời Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tái sản cho bên nhận cầm cố:

Điều 328. Hiệu lực của cầm cố tài sản: "Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố."

Theo đó, cầm cố là một trong những biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tuy pháp luật không quy định  rõ nhưng ta có thể xác định đối tượng của biện pháp bảo đảm này phải là động sản bởi đó là việc "chuyển giao tài sản" thuộc sở hữu của bên cầm cố  cho bên nhận cầm cố  để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ và cầm cố tài sản này có hiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sản cho một bên nhận cầm cố. Do đó, đất đai là bất động sản, thuộc sở hữu nhà nước, còn bản chất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không phải giấy tờ có giá cho nên  đối với trường hợp của bạn đã cung cấp việc chị H nhận cầm cố miếng đất của bà L với giá 150 triệu là không đúng với quy định của pháp luật và giao dịch này sẽ không được pháp  luật bảo vệ. Chính vì vậy, theo quy định tại Điều 75 như trên, dù chị H có tiến hành khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án sẽ tuyên bố "giao dịch  dân sự vô hiệu"và các bên sẽ khôi phục lại tình trạng ban đầu và các bên trao trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Dân sự.