Ông tôi mất năm 1995 không để lại di chúc. Đến khi bà tôi mất có để lại di chúc chia đất cho cô tôi và 2 anh trai tôi. Vậy bà tôi chỉ được chia ½ phần đất của ông bà có đúng không? Hiện nay cô tôi làm đơn lên tòa yêu cầu chia phần đất của ông tôi cho 5 người con của ông bà. Vậy cho tôi hỏi mảnh đất mà ông bà tôi cho bố mẹ tôi từ năm 1971 đến năm 2004 có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể bị lấy ra để tính vào phần đất của ông tôi để lại được không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

Đất đã tặng cho có được mang ra chia thừa kế không?

Luật sư tư vấn dân sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin phép được trả lời như sau:

Căn cứ pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Bộ luật dân sự 2005

Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình 

Nội dung phân tích:

Thứ nhất, về việc bà bạn mất và để lại di chúc đối với 1/2 mảnh đất của ông bà

Theo như nội dung bạn trình bày thì mảnh đất đó là tài sản chung của ông bà bạn trong thời kỳ hôn nhân. Vì điều 33, Luật hôn nhân và gia đình 2014 tài sản chung vợ chồng được hiểu là :

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Cho nên, đối với tài sản chung vợ chồng mỗi người có quyền định đoạt đối với một nửa tài sản. Theo đó, việc bà bạn chỉ chia 1/2 mảnh đất của ông bà là hoàn toàn đúng pháp luật.

Thứ hai, việc cô bạn làm đơn yêu cầu Tòa phân chia mảnh đất của ông bạn cho 5 người con của ông bà.

Khi người chết không để lại di chúc thì phần di sản đó sẽ được chia theo pháp luật, cụ thể theo điều 676 Bộ luật dân sự 2005

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật 

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Tuy nhiên, xét thời hiệu khởi kiện về thừa kế thì trường hợp của bạn đã hết thời hiệu khởi kiện do theo điều 645 Bộ luật dân sự 2005  "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.". Ở đây từ khi ông bạn mất đến nay là 20 năm cho nên cô bạn không có quyền yêu cầu chia thừa kế.

Cô bạn có thể yêu cầu phân chia tài sản chung theo Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP vì sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Thứ ba, về mảnh đất ông bà cho bố mẹ bạn và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên sẽ không còn là tài sản của ông bà và không được mang ra để chia thừa kế.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất mong sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.