Bên cho vay có đòi kiện pháp luật, tôi xin hỏi trong trường hợp này gia đình tôi có bị chịu trách nhiệm hình sự không?

Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sự trực tuyến của Công ty luật Minh Khuê,

 

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội

Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội

2. Luật sư tư vấn:

- Vấn đề thứ nhất: Đây có phải vay nặng lãi hay không?

Khoản 1, Điều 476

Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng

- Như vậy, theo quy định trên của Bộ luật dân sự thì  nếu lãi suất cho vay vượt quá 150%  lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng thì gọi là "cho vay nặng lãi". Tùy thuộc vào thời điểm bạn vay mà xác định lại xuất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng thời kỳ.Tuy nhiên, không phải trường hợp cho vay nặng lãi nào cũng cấu thành tội cho vay nặng lãi.

Khoản 1 Điều 163 Bộ luật Hình sự quy định 
Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm

Như vậy, theo 2 điều luật trên, thì lãi suất do 2 bên thỏa thuận không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố và dấu hiệu của tội vay nặng lại là lãi suất cao hơn mức thỏa thuận trên 10 lần

Như vậy, bạn có thể dễ dàng tính được lãi suất bạn vay có vượt quá quy định của pháp luật hay không dựa vào lãi suất cơ bản do NHNN công bố tại thời điểm vay.

Ngoài ra 1 dấu hiệu bắt buộc nữa của tội vay nặng lãi là có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao  nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay

- Vấn đề thứ hai: Kiện đòi nợ dân sự

 Cơ sở của trách nhiệm hình sự:

" Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự"

Hành vi của bạn chưa đủ yếu tố cấu thành của bất kỳ tội phạm nào được quy định tại Điều 8 về  Khái niệm tội phạm

"  1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội  chủ nghĩa.

2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

4. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác."

Để khởi kiện vụ án dân sự thì theo quy định tại điều 159 BLTTDS thì phải còn thời hiệu khởi kiện.

Điều 159. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng

Ðiều 427 - BLDS 2005. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.

Do vậy nếu kể từ ngày đến hạn trả nợ hoặc ngày khất nợ đến nay đã quả 02 năm thì việc khởi kiện đòi tiền bạn sẽ không được chấp nhận.

Liên hệ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài điện thoại: 1900 6162

Gửi yêu cầu tư vấn pháp luật miễn phí qua Email:  Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê