Nhưng thực chất là người đó đã lấy bằng đại học của em, cũng với những thông tin về lý lịch của em đem đi thế chấp để vay tiền. Hiện tại em đã lấy được tờ giấy vay thế chấp của người bạn em đã ký với hiệu cầm đồ. Giấy vay nợ đó được viết và ký tên của em nhưng chữ viết và chữ ký trên đó hoàn toàn không phải của em mà là của người bạn kia đã giả mạo em để viết. Người bạn đó của em đã bỏ đi không liên lạc được.  Vậy em muốn hỏi 

- Như vậy thì người đó đã mặc tội j và sẽ bị sử phạt như thế nào.?

- Cái hiệu cầm đồ nơi bạn em thế chấp bằng đại học của em có làm sai pháp luật không và em có thể lấy lại được bằng đại học của em không hay là em vẫn phải bỏ tiền ra để chuộc về ?

- Với tờ giấy vay thế chấp có chữ ký giả mạo mà bạn em đã ký thì cái đó có được coi là bằng chứng không? Và đến khi nào thì em mới có thể lấy lại bằng của mình hay phải chờ đến khi bắt được người bạn kia của em thì mới được giải quyết. 

- Nếu như em và hiệu cầm đồ kia đều là người bị hại thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm với số tiền mà bạn em đã vay. Sau này em có phải mất thêm khoản chi phínào cho việc lấy lại bằng không ạ

Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: duong tran

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Tư vấn luật cầm cố, thế chấp?

Tư vấn luật cầm cố, thế chấp - Ảnh minh họa

Trả lời:

Cơ sở pháp luật

- Luật Dân sự năm 2005;

- Luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009;

- Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

Phân tích nội dung câu hỏi:

·Thứ nhất, việc xử lý hành vi của người lấy bằng đại học

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 11 NĐ 167/2013/NĐ-CP quy định hành vi “Cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác mà không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” sẽ bị xử phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Người này còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác theo Điều 139 BLHS: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Đối chiếu tình huống bạn đưa ra, người bạn này đã lừa dối bạn là đã đánh mất bằng đại học để chiếm đoạt bằng của bạn. Sau đó lại đem bằng đại học của bạn đi cầm cố để vay tiền. Sau khi thực hiện hành vi này, người đó đã bỏ trốn không liên lạc được. Tùy vào mức độ nguy hiểm của hành vi mà có thể bị cứu trách nhiệm theo khoản 1 đến khoản 4. Và có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5.

Thứ hai, việc nhận cầm cố bằng đại học của hiệu cầm đồ.

Theo Điều 326 Bộ luật Dân sự 2005: “cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.” Việc chủ hiệu cầm đồ nhận cầm cố bằng đại học của người không phải là chủ sở hữu là trái với quy định của pháp luật. Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì chủ hiệu cầm đố sẽ bị xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với hành vi “Cầm cố tài sản do trộm cắp, lừa đảo, chiếm đoạt hoặc do người khác phạm tội mà có”. Ngoài ra, chủ hiệu cầm đồ còn bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự trong thời hạn từ 06 tháng đến 09 tháng.

Để lấy lại được tấm bằng đại học, bạn cần báo lên Cơ quan Công an, và bạn phải cung cấp giấy tờ tùy thân là CMTND để họ xác thực thông tin, giải quyết và giúp bạn nhận lại bằng của mình.

Thứ ba, xử lý việc tờ giấy vay có chữ ký giả mạo mà người bạn kia ký.

Tờ giấy vay có chữ ký giả mạo mà người bạn kia ký được xem là bằng chứng cho thấy rằng, người bạn kia chưa được sự đồng ý của bạn mà tự ý sử dụng, hay nói cách khác là lừa đảo bạn để mang bằng đại học đi cầm cố. Cơ quan công an sẽ tiến hành xác minh chữ ký, nếu chữ ký trên giấy vay nợ không phải là chữ ký của bạn thì bạn sẽ được nhận lại bằng của mình mà không phụ thuộc vào việc người bạn kia có bị bắt hay không.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự

----------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

2. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

3.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

4. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;