1. Gây tai nạn giao thông thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại như thế nào?

Thưa luật sư, Cho em hỏi em là người đi bộ qua đường mà đường không có vạch người đi bộ qua không, không có đèn báo hiệu, cùng thời điểm đó có chiếc xe cơ giới đi làn ngược chiều nên em không thể qua đường và đứng bên làn này thì có chiếc xe gắn máy chạy tới và đã né em lao vào chiếc xe cơ giới và xe hư hỏng nặng. Nếu việc như vậy thì ai đúng ai sai ạ?
Mong được luật sư giải đáp giúp. Em xin cảm ơn ạ!

Gây tai nạn giao thông thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại như thế nào?

Luật sư tư vấn luật Dân sự về bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông 

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Dựa trên những thông tin bạn cung cấp, bạn đang đi bộ qua đường nhưng vì gặp chiếc xe cơ giới đi làn ngược chiều nên không thể qua đường được. Một chiếc xe gắn máy đi tới và vì né bạn mà xảy ra và chạm với chiếc xe cơ giới ngược chiều ở trên. Để xác định người nào đúng, sai trong trường hợp này cần xem xét các phương diện sau:

Thứ nhất, về hành vi của bạn – người đi bộ

Theo thông tin, bạn là người đi bộ qua đường tại nơi mà không có vạch  kẻ đường cho người đi bộ, không có đèn báo hiệu. Căn cứ theo quy định tại Điều 32 Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì đối với việc qua đường của người đi bộ thì:

“Điều 32. Người đi bộ

1, Người đi bộ phải đi trên hè phố, lề đường; trường hợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mép đường

2, Người đi bộ chỉ được qua đường ở những nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường hoặc có cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ và phải tuân thủ tín hiệu chỉ dẫn.

3, Trường hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường.

4, Người đi bộ không được vượt qua dải phân cách, không đu bám vào phương tiện giao thông đang chạy; khi mang vác vật cồng kềnh phải bảo đảm an toàn và không gây trở ngại cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

5, Trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường đô thị, đường thường xuyên có xe cơ giới qua lại phải có người lớn dắt; mọi người có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường.”

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ năm 2008 được trích dẫn ở trên thì tại nơi không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, đồng thời cũng không có cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ, mà bạn qua đường đã chú ý quan sát, và không qua đường khi gặp xe ngược chiều, không an toàn. Trong trường hợp này bạn được xác định là không có lỗi trong việc gây ra vụ va chạm giữa xe gắn máy và xe cơ giới ngược chiều.

Trường hợp bạn là người đi bộ, qua đường ở nơi không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, nhưng gần đó có đèn tín hiệu, vạch kẻ đường, hoặc có hầm đường bộ mà bạn không đi; hoặc thuộc trường hợp bạn đi vượt qua vạch phân cách. Trong trường hợp này bạn đã có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 32 Luật giao thông đường bộ năm 2008 được trích dẫn ở trên. Và vì hành vi vi phạm của bạn, khiến cho người đi xe  gắn máy vì tránh đâm vào bạn mà va chạm trực tiếp với xe cơ giới chạy ngược chiều. Trong trường hợp này, bạn cũng được xác định là có lỗi gián tiếp trong việc gây ra vụ việc tai nạn giữa xe gắn máy và xe cơ giới nêu trên.

Thứ hai, về hành vi của người đi xe máy, và chiếc xe cơ giới đi ngược chiều:

Theo thông tin bạn không nói rõ vụ việc xảy ra cụ thể như thế nào, người đi xe gắn máy  và người đi xe cơ giới có đi đúng làn đường, phần đường quy định, có vượt quá tốc độ cho phép hay không, có chú ý quan sát khi nhìn thấy bạn qua đường hay không. Do bạn không nói rõ, nên bạn cần căn cứ vào tình hình thực tế để xác định. Tuy nhiên, hiện nay, theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì:

“Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ

… 4. Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.

Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn.”

Do vậy xem xét trong trường hợp của bạn, nếu trong quá trình lưu thông trên đường, người điều khiển xe gắn máy và xe cơ giới nhìn thấy bạn đi bộ qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường, không có đèn tín hiệu nhưng không giảm tốc độ, không quan sát, không nhường đường cho bạn, dẫn đến việc vì tránh va chạm vào bạn mà xảy ra va chạm với nhau thì trong trường hợp này, người điều khiển xe gắn máy, xe cơ giới ở đây vẫn được xác định là có lỗi trong việc gây ra tai nạn.

Từ những căn cứ nêu trên, để xác định chính xác ai là người có lỗi trong việc gây ra vụ việc tai nạn, gây hư hỏng nặng về tài sản thì bạn cần căn cứ vào biên bản kết luận điều tra của cơ quan công an về vụ việc này sau khi đã tiến hành khảo sát hiện trường vụ tai nạn, căn cứ vào lời khai của người làm chứng, của các bên trong vụ việc. Bạn cần thực hiện việc phối hợp với cơ quan điều tra để thực hiện việc điều tra, xác minh vụ việc tai nạn từ đó xác định chính xác những chủ thể có lỗi trong việc gây ra tai nạn này, từ đó xác định rõ trách nhiệm của các bên khi xảy ra thiệt hại từ vụ việc tai nạn. Trong đó, các loại trách nhiệm mà người gây ra thiệt hại phải chịu trong một vụ việc tai nạn giao thông, gồm:

  • Trách nhiệm hình sự

Căn cứ theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi khoản 72 Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2017 thì:

“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1, Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng…”

Căn cứ theo quy định tại Điều 260 Bộ luật dân sự năm 2015 được sửa đổi bởi khoản 72 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự năm 2017, thì việc xác định yếu tố lỗi, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi vụ việc tai nạn giao thông này xảy ra hậu quả nghiêm trọng như làm chết người hoặc

  • Trách nhiệm dân sự

Căn cứ theo quy định tại Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình. Trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Như vậy, việc xác định người nào có lỗi trong việc gây ra tai nạn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại về tài sản, về người xảy ra.

  • Bị xử phạt hành chính:

Việc xác định người nào có lỗi trong việc gây ra tai nạn còn là căn cứ để xác định các bên trong vụ việc gồm bạn, người điều khiển xe gắn máy, người điều khiển xe cơ giới có hành vi vi phạm pháp luật về giao thông nào không, từ đó căn cứ theo quy định tại Luật giao thông đường bộ năm 2008 và Nghị định 46/2016/NĐ- CP của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ mà cơ quan cảnh sát giao thông có quyết định xử phạt phù hợp.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo ngay:  Tư vấn làm hồ sơ xác nhận thương tật do bị tai nạn giao thông ?

2. Tai nạn giao thông gây thiệt hại về người và hư hỏng tài sản thì nguyên tắc đề bù ra sao ?

Xin hỏi luật sư, bạn của tôi điều khiển xe ô tô xảy ra tai nạn giao thôngvới xe ô tô khác, k gây thiệt hại về người, xe ô tô bị hư hỏng; cả 2 xe đềumua bảo hiểm tnds và bảo hiểm tự nguyện (vật chất). Cơ quan công an kếtluận là lỗi hỗn hợp cả 2 bên đều sai. 

Xin hỏi, việc đền bù thiệt hại tàisản sẽ được cơ quan bảo hiểm 2 bên giải quyết như thế nào, nguyên tắc đềnbù ra sao và được quy định tại văn bản pháp luật nào.

- Ngoc Tam Cao

 

Luật sư Lê Minh Trường trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông

 

3. Tai nạn giao thông trên đường đê dẫn đến chết người do va chạm với mô tô đi ngược chiều ?

Anh trai tôi tham gia giao thông trên đường đê, đi ở giữa đê, quá trình đi có một xe mô tô khác đi ngược chiều do cả hai không chú ý nên khi gần tới nơi mới phát hiện ra và người điều khiển xe máy đi ngược chiều với anh trai tôi đã tránh sang bên trái theo chiều đi của anh ta và ngã xuống sườn đê. Hậu quả người điều khiển phương tiện đi ngược chiều với anh trai tôi bị chết, anh tôi không bị làm sao và cũng không va chạm với xe mô tô đi ngược chiều bị tai nạn. Xin hỏi luật sư anh trai tôi có bị xử lý hình sự không ?
Cảm ơn luật sư!
- Hoàng Văn Thạch

4. Bồi thường tai nạn giao thông khi người bị thiệt hại có lỗi ?

Thưa luật sư! Tôi điều khiển xe máy tham gia giao thông và gây tai nạn với 1 người điều khiển xe máy đi ngược chiều với tôi (người đàn ông kia đi trái đường và bị cụt 1 bên tay trái), sau đó tôi và người ngồi sau có tham gia đưa người bị nạn tới viện cấp cứu (bị giập xương bánh chè)tôi cũng có đến viện thăm hỏi tình hình sức khỏe của người bị tai nạn.Vậy tôi có phải bồi thường cho người bị nạn không ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Qua những gì bạn trình thì việc gây tai nạn giao thông thì việc bồi thường thiệt hại sẽ tuân theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, chỉ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu trường hợp của bạn thỏa mãn được những điều kiện sau:

Thứ nhất: Có hành vi vi phạm pháp luật, có nghĩa là bạn thực hiện hành vi vi phạm một trong những quy định của pháp luật dẫn đến hậu quả người kia bị thiệt hại về sức khỏe.

Thứ hai: Có thiệt hại xảy ra trên thực tế. Thiệt hại xảy ra trên thực tế chính là người kia bị giập xương bánh chè. Bên cạnh đó, việc người kia bị giập xương bánh chè là hậu quả trực tiếp của việc bạn có hành vi vi phạm pháp luật

Thứ ba: Có lỗi. Điều kiện này được thể hiện qua việc người có hành vi vi phạm pháp luật phải có lỗi, lỗi ở đây có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Chỉ khi việc tai nạn giao thông hoàn toàn là do lỗi của người kia thì bạn mới không phải bồi thường thiệt hại cho họ căn cứ vào quy định tại điều 617 Bộ luật dân sự 2005

Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

Theo quy định này, trong vụ việc của bạn nếu người bị thiệt hại kia đi ngược chiều với bạn cũng có lỗi thì bạn cũng chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Trong đó, việc bồi thường thiệt hại sẽ bao gồm những chi phí được quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

Điều 609. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Do trong nội dung yêu cầu tư vấn bạn không trình bay cụ thể việc bạn gây tai nạn giao thông có lỗi hay không và người bị thiệt hại có lỗi hay không nên tùy từng trường hợp cụ thể có thể bạn sẽ phải bồi thường tất cả các chi phí trên hoặc bồi thường 1 phần chi phí hay có thể không phải bồi thường căn cứ vào việc gây ra thiệt hại như vậy có lỗi của người bị thiệt hại hay không.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo ngay: Công an được giữ phương tiện gây tai nạn giao thông trong bao lâu ?

5. Gây tai nạn giao thông phải bồi thường những gì ?

Kính chào luật sư, mong luật sư tư vấn giúp tôi vấn đề sau: Vào khoảng 21h ngày 19/6/2015 chồng tôi đang ngồi ở cửa nhà thì bị chiếc xe tải mang biển số 34c-05046 đâm vào. Hậu quả làm đổ cả cửa nhà tôi và chồng tôi bị thương rất nặng phải cưa 1/3 đùi trái, gãy phần đùi còn lại và gãy cả đùi phải, gám định pháp y ngày 6/8/2015 là 78% sức khoẻ. 
Người lao vào chồng tôi lại không phải là lái xe (chưa có bằng lái) mà chỉ là người làm công nhân cùng với người chủ xe. Người đó khai là thấy xe vẫn mở cửa và chìa khoá vẫn cắm ở xe nên đi. Còn chủ xe sau khi tai nạn xảy ra thì họ báo với công an là xe bị mất cắp. Hiện tại đến ngày 27/11/2015 cả hai phía chủ xe và người gây tai nạn cho chồng tôi vẫn chưa đến thăm hỏi và bồi thường thiệt hại. Sau khi tai nạn xảy ra tôi đã làm đơn đến công an huyện. Ngày 18/8/2015 có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Gia đình tôi hỏi thì công an bảo vẫn đang điều tra và vụ án này được điều tra 4 tháng. Công an đã trả xe cho chủ xe mà không thông báo cho gia đình nhà tôi biết, chỉ khi lên hỏi thì công an bảo trả rồi.
Vậy tôi xin hỏi luật sư một số điều sau:
1- Người lái xe gây tai nạn phải chịu trách nhiệm gì với gia đình tôi và pháp luật ?
2- Với thương tích như vậy thì thời hạn điều tra của công an là 4 tháng là đúng hay sai? 3- Với việc trốn tránh trách nhiệm của những người gây tai nạn cho chồng tôi thi tình tiết tăng nặng như thế nào? 
Tôi rất mong nhận được câu trả lời sớm nhất của luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>>  Tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, về trách nhiệm của người gây tai nạn, Căn cứ điều 202 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009:

 “Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Như vậy, căn cứ vào quy định trên thì người lái xe gây tổn hại 78% sức khỏe của chồng bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, cơ quan công an sẽ căn cứ vào các tình tiết để điều tra và xử lý. Ngoài ra, người lái xe còn không có giấy phép lái xe nên còn bị phạt tiền theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt như sau: 

Điều 16. Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông:

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Điều khiển xe không có Giấy đăng ký xe, đăng ký rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc theo quy định;
b) Điều khiển xe không gắn biển số (đối với loại xe có quy định phải gắn biển số);
c) Điều khiển xe không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với loại xe có quy định phải kiểm định) hoặc có nhưng đã hết hạn (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);
d) Điều khiển xe lắp đặt, sử dụng còi vượt quá âm lượng theo quy định;
đ) Điều khiển xe không đủ hệ thống hãm hoặc có nhưng không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật.

Thứ hai, về thời hạn điều tra của cơ quan công an. Theo như phân tích ở trên thì người lái xe vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ với mức hình phạt cao nhất là đến mười năm tù thì theo Khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 đây là tội phạm rất nghiêm trọng. Căn cứ vào Điều 119 Luật tố tụng hình sự: 

Điều 119. Thời hạn điều tra

1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

Vậy, trong trường hợp này là tội phạm rất nghiêm trọng nên cơ quan công an điều tra trong 4 tháng là đúng quy định pháp luật. 

Thứ ba, việc trốn tránh trách nhiệm của người gây tai nạn có bị tăng nặng trách nhiệm hình sự không thì căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 thì: 

Điều 48.  Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Chỉ các tình tiết sau đây  mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d)  Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e)  Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

h) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất,  tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

i) Xâm phạm tài sản của Nhà nước;

k) Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác phạm tội hoặc thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

n) Xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

o) Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.

Vậy căn cứ vào quy định trên thì việc trốn tránh trách nhiệm không phải là cơ sở để tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên khi bị kết án thì người phạm tội sẽ không có được sự khoan hồng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do sự trốn tránh, không hợp tác điều tra của mình. Và người lái xe gây tổn hại sức khỏe 78% với chồng bạn gây hậu quả nghiêm trọng theo điểm k khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 thì có thể bị coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. 

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem ngay:  Trách nhiệm của công an giao thông trọng vụ tai nạn giao thông đường bộ ?

6. Tư vấn xóa án tích khi gây tai nạn giao thông ?

Chào luật sư! Em có câu hỏi về xoá án tích mong các luật sư tư vẫn giải đáp giúp em: Năm 2005 em đi xe máy và gây tai nạn giao thông và toà án xử phạt em 24 tháng án treo. Nhiều người trong gia đình em nói là đi xuống xin xoá án tích không sau này ảnh hưởng đến con cái. Vậy cho em hỏi án của em có phải xoá án tich không?
Xin cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo Điều 64 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009   quy định trường hợp Đương nhiên được xoá án tích như sau : 

"Những người sau đây đương nhiên được xoá án tích:

1. Người được miễn hình phạt.

2. Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;

c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

d)  Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù  từ trên mười lăm năm."

Như vậyHết thời hạn trên, bạn sẽ được đương nhiên xóa án tích. Tuy nhiên, bạn vẫn phải đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án của bạn để làm thủ tục xóa án tích và sẽ được cấp giấy xác nhận đã xóa án tích.

>> Tham khảo bài viết liên quan:  Bị tai nạn giao thông trên tuyến đường đang thi công kiện ai ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê