1. Gây thiệt hại về tài sản khi tai nạn giao thông có bị truy cứu ?

Thưa luật sư, Tôi vừa mới gây tai nạn giao thông làm hư hại tài sản lên đến 30 triệu. Vậy, ở mức này tôi có bi truy cứu trách nhiệm hình sự không ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty  Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Hành vi gây tai nạn giao thông và gây ra thiệt hại thì tùy vào tính chất, mức độ  mà người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử phạt hình sự. Cụ thể theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định như sau:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

“b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;”

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Mà theo quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS, thì hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chỉ bị coi là phạm tội khi gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác. Quy định tại Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao (gọi tắt Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT) hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của BLHS về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, thì:

+ Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

Mà theo như bạn trình bày thì thiệt hại về tài sản mà bạn gây ra là 30 triệu đồng nên chiếu theo quy định trên thì hành vi  điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại về tài sản phải từ 70 triệu đồng trở lên thì mói bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi 1900.1940

>> Xem thêm: Trách nhiệm của người gây tai nạn giao thông dẫn đến chết người thế nào ?​

2. Trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại khi gây ra tai nạn giao thông chết người?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Bố tôi và bác tôi tham gia giao thông điều khiển xe máy trong tình trạng bình thường không có rượu bia trong người. 

Bác tôi lái xe, bố tôi ngồi sau. đang lưu thông trên đường có 1 xe tải và 1 xe máy đi ngược chiều, chiếc xe tải vươt xe máy nên đã đánh lái sang trái và lấn sang đường ngược chiều cùng lúc đấy cửa chắn đằng sau xe tải bật ra và đập vào xe máy của bác tôi điều khiển. (Trước khi va vào xe bác tôi thì xe tải đã va vào xe máy đi cùng chiều). Va chạm rất mạnh nên bố tôi mất trên đường đi bệnh viện, còn Bác tôi và người điều khiển xe máy kia bị thương rất nặng đang điều trị tại Bệnh viện. Sau khi lo việc cho Bố tôi xong gia đình người lái xe tải đến nhà tôi nói chuyện và muốn hai bên giải quyết tình cảm.
Vì vậy tôi muốn hỏi như sau:
Hình phạt đối với người điều khiển xe tải như thế nào?
Bố tôi đã mất thì bên gia đình lái xe tải phải bồi thường cho nhà tôi như thế nào?
Nếu 2 bên gia đình thống nhất giải quyết tình cảm thì lái xe có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Xin cảm ơn!

KH: B.V.H

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi, câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Trong trường hợp này lái xe tải gây tai nạn dẫn đến chết người  hành vi này được quy định tại điều 202Bộ luật hình sự năm 1999 (Bộ Luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) người gây tai nạn có thể bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Hành vi này không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Nếu hai gia đình đã thống nhất không đưa ra pháp luật thì có thể tự thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên cơ quan điều tra vẫn có quyền khởi tố khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm.

Về vấn đề bồi thường thiệt hại: căn cứ theo quy định tại điều 604, 610 Bộ Luật dân sự năm 2005 gia đình bạn được nhân tiền chi phí khi đi viện, mai tang phí, khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết, khoản bù đắp về tổn thương tinh thần. Mức bồi thường hai gia đình tự thỏa thuận với nhau.

>> Xem thêm:  Quy trình xử lý khi xảy ra tai nạn Giao thông đường bộ ?

3. Không có lỗi trong trường hợp tai nạn giao thông thì có phải bồi thường ?

Thưa luật sư, em đang điều khiển xe máy trên đường thì bị 1 xe máy khác đi ngược chiều đâm vào, lòng đường 6,2m, vị trí đâm là 2,06m thuộc phần đường của em. công an đã xác minh là em không có lỗi nhưng người đó chết khi đang cấp cứu tại bệnh viện, như vậy em có phải chịu trách nhiệm hình sự hay bồi thường thiệt hại cho người đó không? bản thân em cũng bị chấn thương sọ não, thiệt hại 38% sức khỏe. Mong luật sư giải đá. Em xin cảm ơn.

Không có lỗi trong trường hợp tai nạn giao thông thì có phải bồi thường ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về bồi thường tai nạn giao thông, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Về trách nhiệm hình sự:

Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông tại Điều 202 như sau:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, trong trường hợp này, hành vi của bạn chưa cấu thành tội phạm nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường được quy định rõ tại điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005 

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Như vậy, trong trường hợp này bạn không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại trên nên bạn không có trách nhiệm bồi thường. Bạn cũng là người bị thiệt hại do hành vi vi phạm của người đã chết. Bạn sẽ được bồi thường, số tiền bồi thường được trích từ phần di sản của người chết để lại. Tuy nhiên, trên thực tế hai bên vẫn nên thỏa thuận để có thể hỗ trợ cho thiệt hại cả hai bên cùng phải chịu

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

 >> Xem thêm:  Mất biên bản xử lý vi phạm thì có lấy lại bằng lái xe bị giữ không ?

4. Tư vấn về bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê.Chào luật sư hiện nay tôi có vụ tai nạn giao thông xảy ra cách đây 3 năm. Vào lúc 20h30 tôi đi xe máy trên đường hai chiều về nhà thì tôi bật xin nhang xin qua đường để rẽ trái vào nhà khi qua bên kia thì phía trên đường có người đi xe máy đi xuống mà uống rượu, xe không đèn, không bằng lái và xe không có giấy tờ hợp pháp tông vào tôi. 

Vậy luật sư tư vấn dùm tôi là ai đúng ai sai và bên nào bồi thường. Và nếu tôi sai mà tôi bị bệnh động kinh co giật có phải bị truy tố hình sự không.?

Tôi cám ơn luật sư!

Tư vấn về bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Ai đúng ai sai:

Với thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ nên tôi không xác định được bên nào đúng bên nào sai,căn cứ vào những gì bạn cung cấp tôi xin tư vấn như sau:

Trường hợp thứ 1:Bạn chuyển làn đường ở nơi không được cho phép;

Căn cứ vào khoản 1 điều 13 luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định như sau:

Điều 13. Sử dụng làn đường

1. Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.

Theo như quy định này thì bạn chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn nếu trong trường hợp này bạn chuyển làn đường không đúng nơi cho phép thì bạn vi phạm quy tắc cơ bản khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chuyển hướng ở những nơi không cho phép.Vì vậy, trong trường hợp này người vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và giao thông đường sắt theo Điều 6 k2 điểm a, k4 điểm g NĐ 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 cụ thể:
 
“2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
 
a)Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước”
 
“4. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
 
g, Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố;”

Ngoài ra, căn cứ theo mức độ về hậu quả gây ra (kết quả giám định thương tật, thiệt hại vật chất...) theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành thì người điều khiển phương tiện này sẽ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo K1 điều 202 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, cụ thể:

"...1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
.....

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Bên cạnh đó thì người đâm vào bạn cũng phải chịu trách nhiệm về hành vi uống rượu ,xe không đèn ,không bằng lái xe và không có giấy tờ xe hợp pháp khi tham gia giao thông.

Trường hợp 2: Bạn chuyển làn đường ở nơi được cho phép.

Như vậy, trong trường hợp này, nếu bạn đi đúng làn đường, chấp hành đúng tín hiệu giao thông,chuyển hướng ở nơi được cho phép... không vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ thì bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.Mặc dù không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình nhưng bạn vẫn phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra, điều 604 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Nhưng nếu thiệt hại xảy ra hoàn hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì bạn không phải bồi thường thiệt hại mà sẽ do người đâm vào bạn phải chịu.Người đâm vào bạn phải chịu trách nhiệm đối với hành vi gây tai nạn giao thông của mình như sau:

- Về trách nhiệm hình sự:

Theo Luật Giao thông đường bộ năm 2009 thì điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định là một trong những hành vi bị cấm. Mức nông độ cồn tối đa được quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ là 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong tình trạng nông độ cồn vượt quá quy định mà gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Cụ thể:

"1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng…”

Khi tham gia giao thông trong tình trạng say rượu, không có giấy phép lái xe đã gây ra tai nạn thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự. Việc có truy cứu trách nhiệm hình hay không cần phải đợi kết quả điều tra của Cơ quan điều tra sau khi xem xét, thu thập chứng cứ.

- Về trách nhiệm dân sự:

Ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự thì người gây tai nạn còn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự. Việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 bao gồm:

“1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định

Vấn đề bị động kinh co giật có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không:

Năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) là điều kiện cần thiết để có thể xác định con người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ khi người có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm. Người có sự phát triển bình thường về tâm - sinh lý sẽ có năng lựa TNHS khi đã đạt độ tuổi nhất định - tuổi chịu TNHS. Năng lực này có thể sẽ không có hoặc bị loại trừ do mắc các bệnh nhất định liên quan đến hoạt động tâm thần. Người không có năng lực trách nhiệm do mắc bệnh như vậy được gọi là người trong tình trạng không có năng lực TNHS.

Điều 13 bộ luật hình sự có quy định về tình trạng không có năng lực TNHS:

"1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự".

Mất năng lực trách nhiệm hình sự thì phải bao gồm cả hai dấu hiệu y học và tâm lý, không thể xác định ngay được bạn có thuộc trường hợp nào.  Để biết bạn có phải chịu trách nhiệm hình sự không tôi xét hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 13 bộ luật hình sự  : Nếu bạn  thực hiện hành vi phạm tội của mình trong khi đang mắc bệnh động kinh thì không phải chịu TNHS. Trong trường hợp này bạn  không đủ năng lực TNHS nên không có lỗi. Năng lực TNHS là điều kiện cần thiết để xác định con người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ người có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm. Người trong tình trạng không có năng lực TNHS là người đã mất năng lực hiểu biết những đòi hỏi của xã hội liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội, không đánh giá được hành vi đã thực hiện là đúng hay sai, nên làm hay không nên làm

Trường hợp thứ hai theo quy định tại khoản 2 Điều 13 bộ luật hình sự : Bạn có thể phải chịu trách nhiệm trách nhiệm hình sự. Vì khi phạm tội bạn vẫn có  năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng điều khiển hành vi. Chỉ sau khi gây án bạn mới bị mắc bện tâm thần hoặc mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, mất năng lực điều khiển hành vi. Do đó, bạn bắt buộc phải chữa bệnh và có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội do mình gây ra.

Như vậy, bạn có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà mình gây ra.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Gây tai nạn giao thông làm tổn hại đến sức khỏe của người khác thì bị xử lý thế nào ?

5. Gây tai nạn giao thông mà không có lỗi có phải bồi thường không ?

Xin chào luật sư ! Em năm nay 28 tuổi, em đang lái xe máy đang lưu thông trên đường phần đường dành cho xe máy. Em đang chạy thì điện thoại em có rung, em giảm tốc độ lại từ từ, em vẫn lái xe bình thường, không nghe điện thoại, không có ý định chuyển hướng hay bất cứ gì khác. Đột nhiên có một cô X cũng đi xe máy, đâm vào sau đuôi xe em, em không bị sao cả, nhưng cô X bị té và có bị gãy tay và gãy cổ chân phải mổ. Theo luật sư thì em có sai không ? Nếu sai thì em sai lỗi gì ? Còn cô kia có sai không ? Nếu sai thì cô đó sai ở lỗi gì ? Tài sản thì cả hai không hư hại gì cả. Như vậy, em có phải bồi thường gì không ạ hay em có bị phạt hành chính hay bị truy tố không ?
 Em mong mail của luật sư. Em cám ơn ạ ! 

Gây tai nạn giao thông mà không có lỗi có phải bồi thường không ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ Khoản 1 Điều 12 Thông tư số 13/2009/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ: Khi mặt đường khô ráo thì khoảng cách an toàn ứng với mỗi tốc độ được quy định như sau: Tốc độ lưu hành đến 60km/h, khoảng cách an toàn tối thiểu là 30m.

Căn cứ điều 11 Thông tư số 13/2009/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộT quy định về giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe: Khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.

Trong trường hợp của bạn, bạn đang chạy xe thì điện thoại bạn có rung, bạn giảm tốc độ lại từ từ, bạn vẫn lái xe bình thường, không nghe điện thoại, không có ý định chuyển hướng hay bất cứ gì khác. Cô X đi phía sau tự đâm vào đuôi xe bạn. Như vậy, bạn hoàn toàn không có lỗi. Và đương nhiên nếu không có lỗi bạn sẽ không bị truy tố. Lỗi ở đây thuộc về cô X do cô đã không giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình, vi phạm điều 11 Thông tư số 13/2009/TT-BGTVT đã nói ở trên.

Theo Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Căn cứ Điều 617 Bộ luật dân sự 2005: 

"Ðiều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường".

Theo đó, dựa trên mức độ lỗi của hai bên, bạn sẽ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường. 

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Gây ra tai nạn giao thông do lỗi hỗn hợp có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?

6. Không có lỗi khi gây tai nạn giao thông có bị khởi tố ?

Thưa luật sư. Tôi có người anh trai làm nghề lái xe tải. Tất cả giấy tờ liên quan tới người và xe đều hợp lệ. Trong người anh tôi không có sử dụng chất kích thích như ( rượu bia và ma túy).Trong lúc anh tôi đang điều khiển xe chạy đúng phần đường theo quy định thì có 1 nhóm học sinh chạy xe đạp điện đi ngược chiều. 

Nhóm học sinh chạy ngược chiều bên phải xe của anh tôi. Khi đó nhóm học sinh vừa chạy vừa đùa giỡn, ngay lúc đó có 2 em trong nhóm đột nhiên băng ngang qua đường. Nhưng được nửa phần đường thì lại đổi hướng trở lại. Lúc đó anh tôi chạy tới và thắng giảm tốc độ kịp thời và dừng xe lại nhưng 2 em đó đã đâm vào đầu xe bên phải xe anh tôi. Hai em học sinh đó, người chạy xe thì có đội mũ bảo hiểm thì bị gãy chân, còn người ngồi sau không đội mũ bảo hiểm thì bị chấn thương phần đầu. Anh tôi có đưa 2 em đó đi cấp cứu và có phụ chăm sóc và phụ tiền viện phí thăm hỏi. Hàng ngày 2 lần chạy vào chăm sóc và thăm hỏi. Nhưng được 2 ngày thì em bị chấn thương ở đầu không qua khỏi. Còn em bị gãy chân thì đang bình phục tốt. Gia đình tôi cũng qua đám tang thăm hỏi và động viên gia đình người đã mất. Tôi thấy thì lỗi không phải anh tôi gây ra. Thưa luật sư. Nếu sử lý theo pháp luật thì anh tôi phải chịu trách nhiệm như thế nào ?

Xin cảm ơn!

Không có lỗi khi gây tai nạn giao thông có bị khởi tố ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông, gọi:1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào thông tin bạn cung cấp xin tư vấn như sau:

Thứ nhất là trách nhiệm bồi thường thiệt hại: trách nhiệm bồi thường được quy định tại Khoản 1 Điều 604 Bộ luật dân sự như sau:

"1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường." 

Theo Khoản 1 Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 về thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

“1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.”

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường. Theo đó trong trường hợp của anh bạn thì anh sẽ bồi thường tương ứng với mức độ lỗi của mình nếu anh bạn cũng có lỗi, còn nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của hai em kia thì anh bạn sẽ không phải bồi thường. Vấn đề lỗi sẽ được xác định trên kết quả đo đạc hiện trường của cảnh sát giao thông. Việc bồi thường thiệt hại trước hết do bạn và gia đình phía kia thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường.

Thứ hai về trách nhiệm hình sự: Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định như sau:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

A) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

B) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

C) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

D) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

Đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm"

Trách nhiệm này chỉ đặt ra khi anh bạn vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây ra tai nạn. 

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh KHuê