2. Trong giao dịch dân sự vô hiệu, giải thích thêm về vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba?
3. Phân biệt hành vi pháp lý mang tính xác định và hành vi pháp lý mang tính khả thi?
4. Tại sao giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối?
5. Phân biệt quyền đối vật và quyền đối nhân?
6. So sánh hành vi pháp lý và sự kiện pháp lý( khác nhau)?
7. So sánh hành vi pháp lý đơn phương một bên và hành vi pháp lý bên không có đối phương?
Mong Luật sư trả lời thư sớm, giải thích đầy đủ, căn cứ điều luật (nếu có)...
Cảm ơn Luật sư!
Người gửi: Thu Trà
 
Tư pháp luật lao động dân sự?

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến Công ty. Về vấn đề của bạn, công ty xin giải đáp như sau:

Câu 1: Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu trong trường hợp một bên chủ thể đã chết (đối với cá nhân) hoặc tổ chức đã chấm dứt.

Căn cứ pháp lýBộ Luật Dân sự năm 2005.

Theo Điều 127 quy định về Giao dịch dân sự vô hiệu: Giao dịch dân sự vô hiệu khi không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu.

Theo Điều 122 quy định về Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: "

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a. Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b. Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c. Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định".

Xét trong tình huống trên thì:

+)  Giao dịch dân sự giữa các bên có một bên chủ thể bị chết hay một bên chủ thể là tổ chức đã chấm dứt giao dịch dân sự đó là giao dịch dân sự có điều kiện, trong giao dịch đó có thỏa thuận nếu như một trong các bên chủ thể bị chết (nếu là cá nhân) thì giao dịch vô hiệu hay một trong các bên chủ thể là tổ chức đã chấm dứt thì giao dịch vô hiệu thì giao dịch đó mới vô hiệu.

+) Giao dịch dân sự giữa các bên có một bên chủ thể bị chết hay một bên chủ thể là tổ chức đã chấm dứt mà giao dịch dân sự đó là giao dịch dân sự thông thường thì giao dịch dân sự đó hoàn toàn không vô hiệu vì nó không vi phạm các điều kiện của giao dịch dân sự trong Điều 122.

Xét trường hợp giao dịch dân sự giữa các bên đó là giao dịch dân sự có điều kiện thì hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu đó được giải quyết như sau:

Căn cứ theo Điều 137 quy định về Hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu:

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Như vậy sau khi giao dịch dân sự bị vô hiệu thì các bên chủ thể còn lại thực hiện đúng theo Khoản 2 Điều này.

 

Câu 2: Trong giao dịch dân sự vô hiệu, giải thích thêm về vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba? 

Căn cứ pháp lý: Bộ Luật Dân sự 2005.

Theo Điều 138 quy định về Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu: "

1. Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc qua giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản chung nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa".

Trong giao dịch dân sự, người thứ ba ngay tình được hiểu là người chiếm hữu không có căn cứ pháp lý đối với tài sản nhưng không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.

Theo quy định trên thì quyền lợi của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ trong hai trường hợp:

 Thứ nhất, khi giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp chủ sở hữu đòi lại tài sản theo quy định của pháp luật.

 Thứ hai, khi người thứ ba ngay tình nhận được bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.

 

Câu 3: Phân biệt hành vi pháp lý mang tính xác định và hành vi pháp lý mang tính khả thi?

Căn cứ: Đại từ điển Tiếng Việt.

Theo giải thích, nghĩa của từ hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể.

Nghĩa của từ pháp lý là căn cứ, cơ sở lý luận của luật pháp.

Nghĩa của từ xác định là đưa ra được kết quả cụ thể, rõ ràng và chính xác sau khi đã nghiên cứu, tìm tòi, tính toán.

Nghĩa của từ khả thi là có khả năng thực hiện được.

Như vậy có thể phân biệt được hành vi pháp lý mang tính xác định và hành vi mang tính đơn phương như sau:

Giống nhau: Cả hai hành vi trên đều là những cách phản ứng, ứng xử, hành động của chủ thể xác định dựa trên căn cứ, cơ sở lý luận của pháp luật trong một cảnh cụ thể.

Khác nhau:

+) Hành vi pháp lý mang tính xác định: Là hành vi chắn chắn thực hiện được khi chủ thể hành động khi đã có khoảng thời gian nghiên cứu và tìm tòi và đưa ra được kết quả trên thực tế.

+) Hành vi pháp lý mang tính khả thi: Là hành vi mà chủ thể có khả năng thực hiện được trên thực tế.

 

Câu 4: Tại sao giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối?

Căn cứ pháp lý: Bộ Luật Dân sự 2005.

Theo quy định của pháp luật thì giao dịch dân sự giả tạo đã thuộc vào một trong những giao dịch dân sự vô hiệu, cụ thể: Điều 129 quy định về Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo thì: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che dấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu còn giao dịch che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này. Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch vô hiệu”.

Mặt khác hành vi gải tạo trong giao dịch dân sự đã vi phạm những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự trong những nguyên tắc thiện chí, trung thực được quy định tại Điều 6 như sau: "Trong quan hệ dân sự các bên phải thiện chí, trung thực, trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào"

Quy định tại điều này có thể hiểu như sao: Việc xác lập giao dịch là nhằm che dấu một mục đích khác của chủ thể tham gia giao dịch; các bên tham gia giao dịch không có ý định tạo lập quyền, nghĩa vụ pháp lý qua giao dịch này; giao dịch được xác định với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người khác hay đối với xã hội hoặc để che dấu một hành vi nào đó, có thể là hành vi bất hợp pháp và trong giao dịch này ý chí giả tạo tồn tại ở các chủ thể, tức là có sự thông đồng trước khi xác lập giao dịch giả tạo.

Vì thế giao dịch dân sự giả tạo luôn vô hiệu.

Ví dụ: Xác lập hợp đồng tặng cho để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, xác lập hợp đồng gửi giữ để che dấu hợp đồng ma bán nhằm trốn tránh nghĩa vụ với nhà nước…

 

Câu 5: Phân biệt giữa quyền đối vật và quyền đối nhân?

Đầu tiên cần hiểu rõ những khái niệm sau:

- Quyền đối vật hay còn được gọi là vật quyền, được hình thành trực tiếp từ quyền trên vật, là quyền sở hữu trên tài sản của mình. Vật quyền cho phép một người được thực hiện quyền chi phối trên vật của mình. Quyền trên tài sản của mình được gọi là quyền sở hữu. Quyền trên tài sản của người khác được gọi là vật quyền khác.

- Quyền đối nhân hay còn được gọi là trái quyền. Được hiểu là quyền của một người được yêu cầu người khác phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định và chỉ qua hành vi của người đó thì quyền và lợi ích của người có quyền mới được đáp ứng.

Ví dụ: Tôi mua một miếng đất thì tôi có quyền sử dụng miếng đất đó gọi là vật quyền. Nhưng miếng đất của tôi lại bị bao bọc bới miếng đất của hàng xóm, thì tôi có quyền yêu cầu hàng xóm phải cho con đường để tôi đi ra (trái quyền) . Nghĩa là tôi có quyền nhất định trên mảnh đất của hàng xóm gọi là vật quyền khác.

Phân biệt:

Tiêu chí

Quyền đối vật

Quyền đối nhân

Vai trò của người thứ ba

Không cần thiết: Đối với chủ sở hữu, quan hệ pháp lý giữa chủ thể và tài sản là quan hệ giữa một bên là chủ thể của quyền còn một bên là đối tượng của quyền; trong việc thiết lập và vận hành quan hệ đó vai trò của người thứ ba không được đặt ra.

Cần thiết: Quan hệ được xác định giữa các chủ thể là người có quyền, người có tài sản và tài sản. Người có quyền phải yêu cầu người có tài sản thực hiện nghĩa vụ giao tài sản hoặc lợi ích vật chất gắn liền với tài sản của mình.

Sự ảnh hưởng đến người thứ ba

Được người thứ ba tôn trọng: Quyền đối vật có sự ảnh hưởng tới tất cả mọi người và đòi hỏi tất cả mọi người phải biết và tôn trọng.

Không làm ảnh hưởng tới người thứ ba: Quyền đối nhân có hiệu lực trong mối quan hệ giữa người có quyền và người có nghĩa vụ trên nguyên tắc không làm ảnh hưởng tới người thứ ba

 

Câu 6: So sánh hành vi pháp lý và sự kiện pháp lý?

Đầu tiên cần hiểu được các khái niệm sau:

Sự kiện pháp lý được hiểu là những tình huống, hiện tượng, quá trình xảy ra trong đời sống liên quan đến sự xuất hiện, thay đổi và chấm dứt các quan hệ pháp luật.

Sự kiện thực tế chỉ được trở thành sự kiện pháp lý khí pháp luật xác định rõ điều đó.

Xét về tiêu chuẩn ý chí, sự kiện pháp lý được phân thành sự biến và hành vi pháp lý.

+) Sự biến là những hiện tượng tự nhiên (không phụ thuộc vào ý chí con người) mà trong những trường hợp nhất định, pháp luật gắn sự xuất hiện của chúng với sự hình thành ở các chủ thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Như vậy những sự kiện này được pháp luật quy định trong những quan hệ pháp luật cụ thể, ví dụ: bão lụt, thiên tại, hỏa hoạn…

+) Hành vi pháp lý là những sự kiện xảy ra theo ý chí của con người, là hình thức biểu hiện ý chí của chủ thể pháp luật. Ví dụ: Hành vi ký kết hợp đồng, hành vi trộm cắp, sự bỏ mặc không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Như vậy, có thể phân biệt được hành vi pháp lý và sự kiện pháp lý như sau:

Xét trên tiêu chuẩn ý chí :

- Hành vi pháp lý là một trong những loại sự kiện pháp lý hay sự kiện pháp lý bao hàm cả hành vi pháp lý.

- Sự kiện pháp lý có thể là do ý chí chủ quan của chủ thể (hành vi pháp lý) hoặc không phải do ý chí của chủ thể (sự biến) nhưng hành vi pháp lý chắc chắn do ý chí của chủ thể.

- Sự kiện pháp lý: Với một số trường hợp nhất định, pháp luật gắn sự xuất hiện của chúng với sự hình thành ở các chủ thể các quyền và nghĩa vụ nhất định (sự biến) hoặc những hành vi đó  luôn được pháp luật gắn các quyền và trách nhiệm nhất định (hành vi) nhưng đối với mọi hành vi pháp lý thì đều được pháp luật gắn với một số quyền và nghĩa vụ nhất định.

 

Câu 7: So sánh hành vi pháp lý đơn phương một bên và hành vi pháp lý bên không có đối phương?

Cần xác định rõ các khái niệm sau:

- Hành vi pháp lý là những sự kiện xảy ra theo ý chí của con người, là hình thức biểu hiện ý chí của chủ thể pháp luật. Ví dụ: hành vi ký kết hợp đồng, hành vi trộm cắp…
- Hành vi pháp lý đơn phương là sự kiện pháp lý xảy ra thể hiện ý chí của một bên chủ thể. Ví dụ: Một người chết có để lại di chúc thừa kế định đoạt tài sản cho những người thừa kế.
- Hành vi pháp lý không có đối phương là sự kiện pháp lý xảy ra mà không có sự xuất hiện của yếu tố khách thể trong đó, không thể hiện ý chí của chính chủ thể của hành vi. Ví dụ: Cái chết tự nhiên của chính chủ thể.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ

----------------------------------------------