Người gửi: Trần Thanh

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê

   Vấn đề làm giấy khám xác định thương tật tai nạn giao thông?

Tư vấn Luật dân sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Luật Minh Khuê, với yêu cầu của bạn Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

Đối với các vụ tai nạn giao thông có người bị thương, thì bắt buộc phải giám định tỷ lệ thương tật để xác định mức độ tổn hại sức khỏe của nạn nhân;. Và chỉ cơ quan công an mới là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định giám định thương tích, mặt khác chỉ kết luận này mới có giá trị pháp lý.

Việc giám định tỉ lệ thương tật nhằm để xác định trách nhiệm bồi thường cũng như trách nhiệm hình sự của người gây tai nạn đối với người bị hại.

Theo quy định tại Điều 202 Bộ Luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

"1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.”

Theo mục 4 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 thì: “Về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự như sau:
4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:
a. Làm chết một người;
b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỉ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;
d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho người bị hại, căn cứ Điều 609 Bộ Luật Dân sự 2005. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”

Như vậy,việc giám định thương tật bắt buộc phải thông qua cơ quan công an. Trường hợp người bị hại có kết quả giám định thương tật đủ hoặc trên 31%, cơ quan công an sẽ tiến hành khởi tố vụ án. Còn tỷ lệ thương tật của người bị hại không đủ 31%, cơ quan công an sẽ làm trọng tài để hai bên hòa giải, bồi thường. Trường hợp bồi thường không thỏa đáng, người bị hại có quyền khởi kiện ra tòa án dân sự.

Trường hợp của bạn nếu 2 bên muốn tự giải quyết mà không thông qua cơ quan công an thì chúng tôi nghĩ 2 bên có thể cùng đến cơ sở y tế để kiểm tra sức khỏe cho người bị tai nạn cũng như nắm được các khoản chi viện phí để có được sự bồi thường và giải quyết thỏa đáng giữa hai bên.
Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ