1. Giám định tỷ lệ thương tật khi bị tai nạn giao thông ?

Xin chào Luật Minh Khuê, Tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Vừa qua gia đình tôi có xảy ra tai nạn giao thông. Tôi muốn làm giấy khám thương tật mà không nhờ tới cơ quan công an có được không ạ? Vì 2 bên gia đình muốn tự giải quyết ?
Mong Luật Minh Khuê có thể giải đáp thắc mắc trên giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Trần Thanh

Giám định tỷ lệ thương tật khi bị tai nạn giao thông ?

Tư vấn pháp luật dân sự về tai nạn giao thông, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Luật Minh Khuê, với yêu cầu của bạn Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

Đối với các vụ tai nạn giao thông có người bị thương, thì bắt buộc phải giám định tỷ lệ thương tật để xác định mức độ tổn hại sức khỏe của nạn nhân;. Và chỉ cơ quan công an mới là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định giám định thương tích, mặt khác chỉ kết luận này mới có giá trị pháp lý.

Việc giám định tỉ lệ thương tật nhằm để xác định trách nhiệm bồi thường cũng như trách nhiệm hình sự của người gây tai nạn đối với người bị hại.

Theo quy định tại Điều 202 Bộ Luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

"1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.”

Theo mục 4 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 thì: “Về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự như sau:
4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:
a. Làm chết một người;
b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỉ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;
d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho người bị hại, căn cứ Điều 609 Bộ Luật Dân sự 2005. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”

Như vậy, việc giám định thương tật bắt buộc phải thông qua cơ quan công an. Trường hợp người bị hại có kết quả giám định thương tật đủ hoặc trên 31%, cơ quan công an sẽ tiến hành khởi tố vụ án. Còn tỷ lệ thương tật của người bị hại không đủ 31%, cơ quan công an sẽ làm trọng tài để hai bên hòa giải, bồi thường. Trường hợp bồi thường không thỏa đáng, người bị hại có quyền khởi kiện ra tòa án dân sự.

Trường hợp của bạn nếu 2 bên muốn tự giải quyết mà không thông qua cơ quan công an thì chúng tôi nghĩ 2 bên có thể cùng đến cơ sở y tế để kiểm tra sức khỏe cho người bị tai nạn cũng như nắm được các khoản chi viện phí để có được sự bồi thường và giải quyết thỏa đáng giữa hai bên.
Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi.

>> Xem thêm: Mức bồi thường khi gây tai nạn giao thông được xác định dựa trên những tiêu chí, căn cứ pháp luật nào ?

2. Tai nạn giao thông nên thỏa thuận như thế nào hợp lý ?

Thưa luật sư. Cho em hỏi em đi xe máy tông vào người đi bộ đang qua đường trong khu vực đường nội bộ sân bay. Sự việc xảy ra em đã đưa bệnh nhân đi viện khám chiếu chụp và bác sỷ chuẩn đoán chỉ xây xát nhẹ và gẫy 1 cái răng. Em đã thanh toán tiền khám chữa bệnh và đã đưa bệnh nhân 2 triêu đê bồi thường. Người này đã nhân. 

Một tháng sau người này gọi bảo đòi thêm tiền nhưng em không đồng ý và người này đòi kiên em ra tòa. Cho em hỏi nếu người này mang đơn kiên thì em có phải bồi thường không và có đủ cơ sở phát lý để kiện không. Trong khi sự việc không báo công an ,không có biên bản tai nạn đo đạc hiện trường và giám định pháp y mà chỉ giải quyết giữa hai bên khi sự việc xảy ra. Tôi xin chân thành cảm ơn.

- Đạt Lê

 

Luật sư Lê Minh Trường trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông

 

3. Câu hỏi về bồi thường sau tai nạn giao thông ?

Chào luật sư. Tôi có một vấn đề về việc bồi thường sau tai nạn giao cần được sự tư vấn của luật sư như sau:vừa rồi tôi có điều khiển ô tô con loại 4 chỗ lưu thông trên đường thì xảy ra va chạm với một người đàn ông điều khiển xe gắn máy chạy cùng chiều. Lúc đầu thấy sự việc không đến nỗi nghiêm trọng nên hai bên giải quyết theo cách hòa giải mà không gọi csgt lập biên bản. Và tôi đã đưa người bị nạn đến bệnh viện điều trị. Kết quả chụp xquang cho thấy nạn nhân bị gãy xương ở chân. Cần phải mổ để nối xương lại. Và tôi cũng đồng ý chịu trách nhiệm về chi phí.
Nhưng kết quả xét nghiệm máu cho thấy nạn nhân có bệnh thiếu tiểu cầu từ trước nên chưa thể phẫu thuật được mà phải điều trị bệnh tiểu cầu trước phẫu thuật sau. Vậy cho tôi hỏi việc điều trị bệnh tiểu cầu của nạn nhân có nằm trong việc bồi thường của tôi không. Hay nói rõ hơn là tôi có phải trả chi phí cho việc điều trị này hay không ?
Chân thành cảm ơn luật sư.
- Phạm Văn Hùng

4. Gây tai nạn giao thông bị truy tố trách nhiệm hình sự không?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi như sau: Tôi bị tai nạn trên đường đi làm. Hai xe va chạm vào nhau và cùng một lỗi là lấn chiếm lòng đường. Khi xảy ra va chạm, người kia ngã xuống bất tỉnh. Trong thời gian đó, bên công an giao thông chuyển vụ này qua cho bên cơ quan điều tra hình sự. Nay người đó đã tỉnh lại. Vậy tôi có bị truy tố không?
Xin cảm ơn Luật sư!
Người gửi: P.T.M Phương

>> Luật sư tư vấn luật hình sự về trách nhiệm khi gây tai nạn giao thông, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho công ty, Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như bạn trình bày ở trên thì hậu quả ở đây không phải là chết người, còn về "thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe" ở điều luật trên được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28 tháng 8 năm 2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng thì: "Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật Hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng"

Trong trường hợp của bạn, tùy thuộc vào tỷ lệ thương tật của người kia và thiệt hại về tài sản cũng như căn cứ vào mức độ lỗi của từng người thì mới khẳng định được bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. 

>> Xem thêm:  Gây tai nạn giao thông dẫn đến chết người hình phạt như thế nào?

5. Gây tai nạn giao thông khi không có lỗi ?

Kính chào Công ty Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp:Sáng sớm ngày 12/6/2014 Anh tôi đang lái ô tô tải nhỏ, bất chợt có 1 cụ già lao qua đường, anh tôi không kịp xử lí và đã đâm vào cụ. 

Khi gọi và chặn xe để cho cụ đi cấp cứu không được, người dân xung quanh thúc giục anh tôi chở cụ đi bằng xe gây tai nạn trong khi không chụp ảnh hay đánh dấu lại hiện trường. Cụ bị chấn thương sọ não nằm viện 5 ngày. Bác sĩ nói tình hình sức khoẻ cụ tiến triển bình thường có khả năng phục hồi. Nhưng không hiểu sao các con cụ xin cho cụ về, được 2 hôm thì cụ mất. Gia đình tôi đã chung tay làm ma chay cho cụ 20 triệu, xong việc đã đưa tiếp 20 triệu còn lại định để lên công an rồi đưa tiếp. Các con cụ nói chi phí đến xong đám ma là 80 triệu yêu cầu nhà tôi chịu hết ngoài ra còn tiền đền bù lên đến 200 triệu. Cụ năm nay đã 75 tuổi theo hàng xóm nói cụ mắt mờ tai còn bị lãng, khi xảy ra va chạm cụ đã đi ra khỏi phần đường dành cho người đi bộ, vì không giữ lại hiện trường nên xe nhà tôi bị quy vào lỗi vi phạm tốc độ vì dựng lại hiên trường xe cách cụ 11,9m. Nhưng có rất nhiều người chứng kiến rằng xe chỉ cách cụ 3-4m. Trong thời gian cụ nằm viện cũng như ma chay nhà tôi luôn có người túc trực chăn sóc và làm mọi việc. Luật sư cho tôi hỏi anh tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không và mức độ như thế nào? Mức đền bù là bao nhiêu thì thoả đáng. Vì theo những người chứng kiến xe nhà tôi không vi phạm lỗi nào cả ?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ Công ty Luật Minh khuê.

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư !

Người gửi: Diệp Anh 

Gây tai nạn giao thông khi không có lỗi?

Tư vấn pháp luật giao thông đường bộ trực tuyến, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Điều 617 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

"Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường."

Trong trường hợp này, nếu qua hoạt động điều tra của cơ quan công an xác định anh bạn không vi phạm những quy định về an toàn giao thông đường bộ: đi đúng làn đường quy định, đúng tốc độ, không tránh, vượt trái phép... và người có lỗi là ông cụ thì anh bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự và không phải bồi thường thiệt hại. Ngược lại, nếu cơ quan điều tra xác định anh bạn là người có lỗi trong vụ tai nạn thì anh bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại điều 202 Bộ luật Hình sự. Cơ quan tố tụng sẽ dựa vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để đưa ra quyết định về hình phạt cho anh bạn. Anh bạn sẽ phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại điều 610 Bộ luật Dân sự:

Thứ ba: Mối quan hệ giữa hậu quả và hành vi phạm tội. Gữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra phải tồn tại mối quan hệ nhân quả. Hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ phải xảy ra trước hậu quả và là nguyên nhân trực tiếp khiến phát sinh hậu quả. Đối chiếu với thông tin bạn đưa ra cho thấy: Người vi phạm điều khiển phương tiện giao thông là nạn nhân chứ không phải bạn. Nạn nhân đã sử dụng rượu trước khi tham gia giao thông đồng thời trong quá trình lưu thông, người này còn lấn chiếm làn đường làm xảy ra va chạm với xe của anh. Đây là hành vi vi phạm điều cấm quy định tại Điều 8 Luật giao thông đường bộ 2008. Nếu anh có chứng cứ chứng minh anh không có lỗi khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà lỗi xuất phát từ phía nạn nhân thì anh hoàn toàn không phải bồi thường thiệt hại cũng như không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại điều 202 Bộ luật hình sự.

"Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm  

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định"

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe gây tai nạn giao thông bồi thường như thế nào?

 

6. Hình thức xử lý khi đã có đơn bãi nại đối với người gây tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư, Bạn tôi lái xe khách cho công ty vận tải do tránh xe máy băng ngang đường đã va chạm với ô tô con đi ngược chiều, thiệt hại sửa chữa mất 260 triệu và gây thương tật cho người bị tai nạn với tỉ lệ là 41%. Bạn tôi đã đưa người tai nạn đi viện chạy chữa xong và người này đã viết giấy bãi nại. Vậy tòa xẽ xử bạn tôi như thế nào ? 

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.P

Hình thức xử lý khi đã có đơn bãi nại đối với người gây tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về trách nhiệm khi xảy ra tai nạn giao thông, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến thư mục tư vấn của công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi 2009 quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:

"Điều 202.  Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Đồng thời, Mục 4.1 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự hướng dẫn về tình tiết "Gây hậu quả nghiêm trọng" quy định tại Khoản 1 Điều 202 như sau:

"4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:

A. Làm chết một người;

B. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

C. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

D. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

Đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

E. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

Như vậy, người lái xe khách gây tai nạn giao thông với lỗi vô ý, đồng thời, người đó gây tổn hại cho sức khỏe của người bị hại là 41 % nên thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Người lái xe khách sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng (Điểm B Mục 4.1 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP)."

Về việc người bị hại đã viết giấy bãi nại thì theo Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, chỉ những tội sau mới Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại:

"Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

 2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức."

Đối chiếu với Điều 105 thì Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202) không nằm trong các tội nêu trên. Do đó, dù người bị hại đã viết giấy bãi nại thì cơ quan chức năng vẫn khởi tố vụ án này. Người lái xe khách sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự. Việc người lái xe khách đã đưa người bị hại đi bệnh viện chạy chữa có thể được xem là tình tiết giảm nhẹ theo Điểm b Khoản 1 Điều 46 Bộ  luật Hình sự: b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã lựa chọn công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh KHuê