Có 2 lần cháu đã bắt chị ấy viết giấy nợ: Lần thứ nhất : Cháu bắt chị ấy ghi là nợ cháu 5.210.000đ (vì có cả tiền lãi cho đến thời điểm đó) và hẹn ngày trả nhưng chị ấy ko trả . Lần thứ 2 : Cháu bắt chị ấy ghi nợ 5.000.000đ và bắt chị đưa chứng minh nhân dân và cà vet xe của bố chị làm tin (thời điểm này nếu tính lãi thì 6 triệu hơn rồi nhưng cháu chỉ bắt chị đó ghi 5.000.000đ vì cháu sợ nhiều quá chị trả ko nổi). Nhưng sau đó vài ngày thì chị đó xin lại cmnd để đi vay tiền trả cháu. Cuối cùng chị ấy ko trả và giữ luôn chứng minh nhân dân. 

Vậy bây giờ cháu muốn lên phường kiện chị ấy có được không ạ? Cháu có bị ngồi tù không ? 

Tiền lãi chỉ nói bằng miệng và qua tin nhắn, còn trên giấy tờ thì ghi là nợ 5.000.000đ chứ ko ghi gốc bao nhiêu lãi bao nhiêu ?

Cháu xin cảm ơn luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự  của Công ty luật Minh Khuê.

Giao dịch dân sự với người 17 tuổi ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

2. Nội dung phân tích

Thứ nhất, về vấn đề khởi kiện: 

Theo điều 471 bộ luật dân sự quy định về hợp đồng vay tài sản như sau:

" Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Pháp luật hiện nay không quy định Hợp đồng vay tài sản bắt buộc phải tuân theo bất kỳ hình thức nào nên hai bên có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2005. Vậy nên giấy viết tay này có giá trị như hợp đồng vay tài sản. Do đó, bên vay có nghĩa vụ như sau:

Điều 474 Bộ luật dân sự 2005: Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

"1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Do vậy, bạn có thể khởi kiện lên Toà án nơi bên vay cư trú yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

"1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết."

 Thứ hai, bạn có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự vì:

Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định về Tội vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội  thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng  đến ba năm.

3. Người phạm tội  còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định về mức lãi suất cao nhất :

"1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ." 

Lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố hiện nay là 9%/năm, tương ứng 0,75%/tháng. Vậy mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận không được vượt quá 1,125%/tháng.  Như vậy trong trường hợp này,  bạn cho vãy lãi 35.000 đồng/ 1 ngày tương ứng với lãi suất 30% / 1 tháng, gấp hơn 26 lần mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định. Tuy nhiên, bạn không mắc tội cho vay nặng lãi vì bạn không phải là người làm nghề cho vay và theo như bạn nói, bạn không hề biết về việc cho vay với lãi suất 35 000 đồng/ 1 ngày là vay năng lãi. Do đó, không có tính chất chuyên bóc lột nên không đủ yếu tố cấu thành tội cho vay nặng lãi.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê