Sau đó em k trả điện thoại cho hương mà mang về nhà,mục đích để kiểm tra những tin nhắn trong máy điện thoại của hương(em cung nói vói hương như vay). Hôm sau mẹ em đã mang trả cho hương. Vậy hỏi em có phạm tội chiếm giữ tài sản trái phép không? Hay phạm tội gì khác không ạ?
Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này
Kính thư
Người gửi: Phạm Văn Điệp

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162
 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tối trả lời như sau:

Qua thông tin bạn trao đổi trong thư tư vấn, chúng tôi hiểu rằng bạn chỉ đơn thuần giật điện thoại của bạn gái bạn mà không dùng bất kỳ thủ đoạn nào khác như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của bạn gái bạn nhằm chiếm đoạt chiếc điện thoại. Chúng tôi nhận định hành vi của bạn có dấu hiệu cấu thành tội cướp giật tài sản.

Điều 136 BLHS 1999 quy định về tội cướp giật tài sản như sau:

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười  năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu  thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương  tật từ 11% đến 30%;

g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

h) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm  chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng"

Tội cướp giật tài sản là công khai chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng để tránh sự phản kháng của chủ tài sản. Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản thể hiện ở hành vi "công khai" và "nhanh chóng". Công khai về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt ở tội này cho phép chủ tài sản có khả năng biết ngay khi hành vi này xảy ra. Về ý thức chủ quan của người phạm tội, người phạm tội khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản biết hành vi của mình có tính chất công khai và hoàn toàn không có ý che giấu hành vi đó. Nhanh chóng là dấu hiệu phản ánh thủ đoạn lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt và nhanh chóng tẩu thoát. Ví dụ, giật lấy tài sản và nhanh chóng tẩu thoát...

 Như vậy, chỉ cần bạn có hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác một cách nhanh chóng (cụ thể ở đây là chiếc điện thoại) mà không cần biết mục đích bạn chiếm đoạt tài sản để làm gì thì hành vi đó của bạn cũng  CÓ DẤU HIỆU phạm tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 136 BLHS 1999.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê 

---------------------------------- 

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT LIÊN QUAN:

1. Tư vấn soạn thảo hợp đồng;

2. Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất;

3. Tư vấn thừa kế quyền sử dụng đất;

4. Dịch vụ công chứng sang tên sổ đỏ;

5. Dịch vụ công chứng uy tín, chuyên nghiệp;

6. Dịch vụ soạn thảo và công chứng hợp đồng;