Tôi đã trải qua kiểm tra sát hạch giao thông và được cấp giấy phép lái xe của nước sở tại. Sau đó tôi đề nghị được cấp song song cả giấy phép lái xe quốc tế và đã được cấp.  Vậy giấy phép lái xe đó sau này về Việt Nam tôi có được sử dụng để lái xe không ? Tôi có phải đổi giấy phép lái xe quốc tế đó sang giấy phép lái xe của Việt Nam không ? Nếu có thì thủ tục như thế nào ?

Xin chân thành cảm ơn !

Người gửi: Minh Huệ

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Giấy phép lái xe quốc tế có được sử dụng để lái xe khi về Việt Nam không ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162         

Trả lời:

Thưa quý khách hàng!

 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lí:

Thông tư số 46/2012/TT-BGTVT quy định về đào tạo, sát hạch cấp Giấy phép lái xe cơ giới đường bộ

Thông tư s 48/2014/TT-BGTVT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 46/2012/TT-BGTVT

Thông tư số 29/2015/TT-BGTVT quy định về việc cấp, sử dụng Giấy phép lái xe quốc tế

Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, Khoản 5 Điều 49 Thông tư số 46/2012/TT-BGTVT quy định như sau:

Điều 49. Sử dụng và quản lý giấy phép lái xe

5. Người nước ngoài hoặc người Việt Nam cư trú ở nước ngoài có giấy phép lái xe nước ngoài, nếu có nhu cầu lái xe ở Việt Nam phải làm thủ tục đổi sang giấy phép lái xe tương ứng của Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế về giấy phép lái xe mà Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.”

Khoản 2 Điều 1 Thông tư số 48/2014/TT-BGTVT quy định như sau:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 46/2012/TT-BGTVT ngày 07 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 49 như sau:

"5. Người nước ngoài hoặc người Việt Nam cư trú ở nước ngoài có nhu cầu lái xe ở Việt Nam thực hiện như sau:

a) Nếu có giấy phép lái xe quốc gia phải làm thủ tục đổi sang giấy phép lái xe tương ứng của Việt Nam;

b) Nếu có giấy phép lái xe quốc tế do cơ quan có thẩm quyền của các nước tham gia Công ước về Giao thông đường bộ năm 1968 cấp, còn thời hạn sử dụng thì được lái loại xe quy định đã ghi trong giấy phép lái xe mà không phải đổi sang giấy phép lái xe Việt Nam;

Nội dung giấy phép lái xe quốc tế theo quy định tại Phụ lục 32 của Thông tư này;

c) Trường hợp điều ước quốc tế về giấy phép lái xe mà Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó."”

Như vậy, theo quy định trên thì nếu bạn có Giấy phép lái xe quốc tế do cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc cấp ( Hàn Quốc là nước có tham gia Công ước Viên năm 1968) và còn thời hạn sử dụng thì bạn sẽ được lái loại xe quy định trong Giấy phép lái xe mà không phải đổi sang giấy phép lái xe Việt Nam.

Thứ hai, Điều 11 Thông tư số 29/2015/TT-BGTVT quy định như sau”

"Điều 11. Sử dụng giấy phép lái xe quốc tế do các nước tham gia Công ước Viên cấp tại Việt Nam

1. Người có IDP do các nước tham gia Công ước Viên cấp khi điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trên lãnh thổ Việt Nam phải mang theo IDP và giấy phép lái xe quốc gia được cấp phù hợp với hạng xe điều khiển; phải tuân thủ pháp luật giao thông đường bộ của Việt Nam.

2. Người có IDP vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ Việt Nam mà bị tước quyền sử dụng IDP có thời hạn thì thời hạn bị tước không quá thời gian người lái xe được phép cư trú tại lãnh thổ Việt Nam.”

Thông tư số 29/2015/TT-BGTVT sẽ có hiệu lực thi hành như sau:

"Điều 12. Hiệu lực thi hành

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2015”

Như vậy, bạn cần lưu ý là thông tư số 29/2015/TT-BGTVT sẽ có hiệu lực vào tháng 10 tới đây nên khi tham gia giao thông ở Việt Nam vào thời gian tới thì bạn cần tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.