Trong nhà tôi không ai nhận nuôi bà, tôi phải đứng ra nuôi. Cha tôi mất để lại mảnh đất 6000m2 nhưng anh tôi đòi chiếm hết tất cả số đất trên. 4 chị em gái chúng tôi đã họp nhau lại định chia đều nhau nhưng anh tôi không đồng ý và đòi chiếm hết. Anh tôi còn làm một tờ di chúc giả với nội dung cha mất để lại tất cả đất đai cho anh tôi. 

Xin hỏi bây giờ chúng tôi phải làm sao?

Xin cảm ơn !

Người gửi: N.T.Dưỡng

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luậtdân sự của công ty Luật Minh Khuê.

 

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 (Bộ luật dân sự năm 2015)

Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình 

2. Nội dung phân tích:

Về việc anh bạn đòi hưởng toàn bộ di sản.

Việc cha bạn mất có hay không để lại di chúc không thấy bạn đề cập trong tình huống này. Nên sẽ chia làm 2 trường hợp:

- Trường hợp 1: Nếu cha bạn mất có để lại di chúc thì di sản thừa kế đó sẽ chia theo di chúc.

- Trường hợp 2: Nếu cha bạn mất không để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ chia theo pháp luật.

Điều 676 Bộ luật Dân sự có quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật 

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy, di sản thừa kế mà cha bạn để lại sẽ được chia làm 6 phần, trong đó có mẹ bạn và 5 người con.

Tuy nhiên, cha bạn mất cách đây 21 năm, như vậy thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã hết vì theo điều 645 Bộ luật Dân sự thì:

 "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Mục 2.4, phần 2 của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế đối với trường hợp:

"a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn, mảnh đất 6000m2 là tài sản tranh chấp, anh trai bạn không thừa nhận đó là tài sản chung, cho nên không thể áp dụng theo Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP được. Trường hợp này, thời hiệu khởi kiện đã hết nên anh bạn không có quyền yêu cầu chia thừa kế với mảnh đất này.

Về việc anh bạn làm di chúc giả?

Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự quy định như sau

"Điều 643. Người không được quyền hưởng di sản  

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc."

Như vậy nếu anh trai bạn giả mạo chữ viết, chữ ký của cha bạn để hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản của cha bạn để lại trái với ý chí của cha bạn thì anh trai bạn không được hưởng di sản từ cha của bạn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê