Hiện nay chủ nợ đang gọi và thuê người vào nhà đòi tiền em với số tiền 8 triệu (2 triệu+ tiền lãi gần 2 năm). Bây giờ em không trả nợ thì em có bị phạm tội không thưa luật sư và nếu phải trả em sẽ phải trả số tiền bao nhiêu ạ.

Em xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật dân sự, gọi 1900.6162.

Trả lời

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009

Bộ luật dân sự 2005

Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình

Nội dung tư vấn​

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.
2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm. Do đó, nếu theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 thì chỉ có thể áp dụng mức lãi suất cao nhất đối với khoản tiền bạn vay là: 9%/năm x 150% = 13,5%/năm
Trong trường hợp của bạn, bạn vay tiền của người khác 2 triệu đồng. Lãi suất được tính là 10.000 đồng/ngày. Tức là lãi suất 0,5%/ngày, do đó lãi suất 1 năm là: 0,5 (%) x 365 (ngày) = 182,5 %/năm.
Việc thỏa thuận mức lãi suất 182,5%/năm đã vượt quá 13,5%/năm nên trước hết là vi phạm pháp luật dân sự về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự nói trên. Khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, bạn có thể bị khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự để kiện đòi lại tài sản. Và theo phân tích trên, tòa án sẽ ra bản án quyết định người đã vay tiền có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc và số tiền lãi trên nợ gốc đó với lãi suất là 13.5%/năm.

Đồng thời, bên vay có thể phải chịu trách nhiện hành chính theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản;

b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác;

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;

d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác.

Ngoài ra, người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là “tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính".

Ngoài bị truy cứu trách nhiệm dân sự và xử phạt vi phạm hành chính, người vay bỏ trốn khi không trả được nợ thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 139 BLHS (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) hoặc điều 140 BLHS (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn, bên cho vay nặng lãi cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự bởi mức lãi suất cao hơn 13.5 lần mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định (13.5%/năm), căn cứ vào Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về Tội cho vay nặng lãi: "Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự.