Sau thời gian em thấy không ổn và kêu rút hợp đồng thì họ bảo không được. Họ bảo phải lấy sản phẩm về dùng. Từ đó em bỏ không làm ở đó nữa và sản phẩm em cũng không dám lấy về dùng và cũng không bán được cho ai. Em có đọc hợp đồng, trên giấy tờ ký có 1 năm. Giờ hợp đồng hết hạn rồi, em có lên công ty nhiều lần kêu họ mua lại cho em giá nào em cũng bán, họ kêu không được phép mua lại. Giờ hàng không ai mua mà tri ân cũng không thấy. Em muốn hỏi luật sư em phải làm thế nào để lấy lại chút vốn trả nợ hoặc có cơ quan nào can thiệp và giúp được em không ạ ?

Xin chân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự  công ty Luật Minh Khuê.

>>Luật sư tư vấn phápluật dân sự trực tuyến gọi:1900.6162.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

Cơ sở pháp lý

Luật cạnh tranh 2004

Nghị định số 42/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp

Nghị định số 71/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh

Nội dung tư vấn

Hành vi bán hàng đa cấp bất chính được quy định tại điều 48 Luật Cạnh tranh 2004:

"1. Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

2. Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;

3. Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

4. Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia."

Theo như bạn trình bày, công ty đa cấp mà bạn tham gia đã có hành vi bán hàng đa cấp bất chính theo quy định tại đều 48 Luật cạnh tranh 2004 và bị xử lý theo Điều 36 Nghị định 71/2014/NĐ-CP. Cụ thể, tại khoản 3 quy định, phạt tiền doanh nghiệp bán hàng đa cấp từ 60.000.000 đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
b) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải đặt cọc hoặc đóng một khoản tiền nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
c) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
...
n) Không cam kết cho người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;
o) Cản trở người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa theo quy định của pháp luật;

Phạt tiền gấp hai lần mức quy định tại Khoản 3 trong trường hợp hành vi vi phạm được thực hiện trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.

Ngoài việc bị phạt tiền, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả sau:

a) Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp đối với hành vi quy định tại Điểm d, Điểm đ Khoản 1 Điều này và hành vi quy định tại Khoản 3 Điều này trừ trường hợp kinh doanh theo phương thức đa cấp mà không đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được;

c) Buộc cải chính công khai.

Các cơ quan quản lý nhà nước về bán hàng đa cấp được quy định tại Chương 6 Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, bao gồm:

1. Cơ quan Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương;

2. Sở Công thương

Như vậy, bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi tới cơ quan quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương hoặc Sở Công thương tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp bán hàng đa cấp đóng trụ sở.

Trong quá trình điều tra phát hiện vụ việc cạnh tranh có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải kiến nghị ngay với thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh xem xét chuyển hồ sơ đến cơ quan điều tra có thẩm quyền để khởi tố hình sự. Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định một số tội danh liên quan như: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156), Tội kinh doanh trái phép (Điều 159), Tội lừa dối khách hàng (Điều 162), Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế (Điều 167), Tội quảng cáo gian dối (Điều 168), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), Tội buôn lậu (Điều 153)....

Như vậy, tùy vào hành vi cụ thể cũng như tính chất, mức độ vi phạm mà người thực hiện và doanh nghiệp có hành vi kinh doanh đa cấp bất chính có thể bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật cạnh tranh, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm trong Bộ luật hình sự.

Để bảo vệ quyền lợi có hiệu quả hơn, bạn có thể cùng những người bị hại khác yêu cầu doanh nghiệp bán hàng đa cấp trả lại tiền đã “lừa”. Nếu doanh nghiệp đó không giải quyết hoặc gây khó khăn thì bạn và những người bị hại khác cần chuẩn bị chứng cứ, làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan chức năng như đã nêu ở trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật.