Người thuê xe trên danh nghĩa nói miệng là chồng em nhưng khi làm hợp đồng thuê xe thì trên hợp đồng không có đầy đủ thông tin về chồng em như số chứng minh nhân dân, tên tuổi đầy đủ, số nhà thường trú ...... Mà chồng em chỉ kí tên phía dưới thôi, còn người lái là một người bạn của chồng em cùng đi chơi và nhờ người này lái do người bạn này có đầy đủ giấy tờ bằng lái, và trên hợp đồng thuê xe cũng chỉ có thông tin cụ thể của người tài xế này. Hợp đồng thuê xe chỉ có 1 bản tượng trưng họ giữ chứ không lập thành 2 bản như các hợp đồng khác và cũng không có ai làm chứng ngoài người cho thuê và người lái xe và chồng em. Sau đó chúng em lái xe đi Đà Lạt đến địa phận huyện Di Linh thì xảy ra tai nạn đụng xe với 1 xe hơi khác vào lúc 3h30 sáng ngày 10/12/2015 và phần lỗi do tài xế bên em lái xe vượt xe tải khác cùng chiều bị khuất tầm nhìn nên xảy ra tai nạn đụng xe hơi đi ngược chiều với xe tụi em. Tai nạn không bị thiệt hại nặng về người do chỉ có 1 mình bác gái bên xe nhà bên bị đụng bị gãy xương tay bình thường và hiện tại đã khỏi. Và 2 xe bị thiệt hại nặng phần đầu xe. Sau đó công an kéo 2 xe về làm việc và để 2 nhà tự hoà giải. Bên chúng em rất có thiện chí hoà giải nhưng nhà bên họ liên tục đòi hỏi này nọ và đổi ý liên tục nên mỗi lần chồng em và người tài xế lên thương lượng hỏi thăm thì họ liên tục thay đổi ý kiến đòi này kia. Sự việc kéo dài đến tận hôm nay là ngày 22/01/2016 vẫn chưa giải quyết xong. Lúc đầu bên gia đình họ yêu cầu bên em đưa 300 triệu sửa xe bồi thường nhưng số tiền đó không hợp lý do xe đời đó giá trị thực còn khoảng 450 triệu với lại số tiền đó quá lớn với tụi em. Sau đó bên gia đình họ yêu cầu đưa xe vào hãng sửa, và yêu cầu bên em đặt cọc 75% số tiền sửa mới làm giấy bãi nại để tụi em lấy xe thuê của tụi em ra mang về sửa, và ngày 15/01/2016 bên em đã đặt cọc 100 triệu cho hãng ford và kéo xe của gia đình họ về tháo ra để làm báo giá sửa chữa hết bao nhiêu. Nhưng ngày 21/01/2016 bên hãng Ford báo giá sửa 390 triệu yêu cầu bên em đặt cọc thêm 120 triệu nữa thì họ mới sửa và gia đình họ mới làm giấy bãi nại để tụi em lấy xe tụi em thuê ra. Nhưng tụi em không thể lo số tiền đó được liền, và hôm nay hạn chót công an để cho tự hoà giải, nếu không được sẽ chuyển hồ sơ khởi tố. Còn về bên cho tụi em thuê xe họ liên tục đòi tụi em trả tiền thuê 1 ngày 1 triệu và ngày 18/01/2016 tụi em đã trả trước họ 15 triệu. Họ còn giữ xe máy đứng tên ba chồng em chứ họ không giữ giấy tờ xe. Xe bên em thuê, họ có 2 bảo hiểm gồm bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện, họ nói thẳng với tụi em là tụi em phải đền xe bên nhà bên kia, và lo trả họ 1 triệu 1 ngày thuê xe cho đến khi nào lấy của họ ra được mới thôi. Bây giờ tụi em không còn khả năng lo số tiền quá lớn để đáp ứng cho nhà bên bị đụng để sửa xe theo ý họ là thay toàn đồ mới chứ không chịu vô gara sửa xe. Hiện tại tụi em đặt cọc bên hãng Ford 100 triệu và trả trước 15 triệu cho bên cho tụi em thuê xe. Nhưng bây giờ tài xế kêu buông không lo tiền 120 triệu được nữa kêu tụi em lo thì vợ chồng em cũng không lo được. Nếu không đưa thêm 120 triệu cho hãng Ford thì xe tụi em thuê vẫn chưa lấy được và có thể công an sẽ chuyển hồ sơ lên để khởi tố. Em có 1 số câu hỏi thắc sau kính mong luật sư tư vấn giúp em :

1/ Hợp đồng thuê xe tụi em làm có hợp pháp không ( bên em không giữ bản nào do họ chỉ làm 1 bản tượng trưng thôi ) ? Khi ra toà thì hợp đồng đó có giá trị pháp lý gì không ? Và ai là người có liên quan trực tiếp đến hợp đồng đó : chồng em hay tài xế lái xe ( thông tin trên hợp đồng của tài xế, và chồng em kí chứ không có thông tin cá nhân của chồng em trên hợp đồng ) và người tài xế là tụi em nhờ bằng miệng để lái chứ không phải tụi em thuê hay mướn trả tiền để lái ?

2/ Người cho tụi em thuê xe đòi tụi em trả 1 ngày 1 triệu tiền thuê cho đến khi lấy được xe ra, mặc dù tụi em đã báo họ là bị tai nạn đụng xe ngay ngày 10/12/2015 sau khi thuê từ tối hôm 09/12/2015. Họ đòi tiền đó là đúng hay sai? Nếu tụi em không có khả năng chi trả tiền thuê xe nữa, nếu gom được chỉ lo khoảng 20 triệu tiền thuê nữa được thôi và không giải quyết vụ này nữa giao lại cho chủ xe và tài xế lo với công an, do tài xế buông để công an giải quyết thì vợ chồng em có bị liên quan liên luỵ gì đến vụ khởi tố này không? Và nhà cho thuê xe có kiện tụi em vì không trả tiền thuê tiếp hay đòi vợ chồng em trả tiền thuê đến khi nào lấy xe mới ngưng không trả nữa, được không?

3/ Nếu công an khởi tố vụ này ra toà thì ai là người bị tội phải bồi thường và có phải bị ngồi tù bao lâu không? Chủ thuê xe bên tụi em thuê nói rõ, tụi em lo bồi thường xe bên kia, bên này thì không phải bồi thường sửa gì vì họ có bảo hiểm lo, nói chung kéo xe họ về phải trả đủ tiền thuê 1 ngày 1 triệu cho họ. Nếu chỉ trả thêm được 20 triệu và lấy xe máy họ đang giữ về được không? Họ có cơ sở gì kiện tụi em không?

4/ Ai là người có liên quan trực tiếp và phải bồi thường do vụ tai nạn xe này? Chồng em hay tài xế lái xe gây ra tai nạn ? Kính mong luật sư tư vấn giúp em càng sớm càng tốt và giúp em tìm ra cách giải quyết ổn thoả nhất, hạn chế mức bồi thường tổn thất do vụ tai nạn xe gây ra thấp nhất có thể.

Cảm ơn luật sư rất nhiều!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục  Tư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê. 

>>  Luật sư tư vấn luật dân sự gọi : 1900.6162

 

Trả lời :

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dặn năm 2005

2. Nội dung tư vấn

-  1. Về hợp đồng thuê xe

 Theo bộ luật dân sự năm 2005 quy định :

Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự  

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

Điều 123. Mục đích của giao dịch dân sự

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó.

Điều 124. Hình thức giao dịch dân sự  

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Điều 480. Hợp đồng thuê tài sản

Hợp đồng thuê tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải trả tiền thuê.

Điều 481. Giá thuê

Giá thuê tài sản do các bên thoả thuận.

Trong trường hợp pháp luật có quy định về khung giá thuê thì các bên chỉ được thoả thuận về giá thuê trong phạm vi khung giá đó.

Điều 482. Thời hạn thuê

1. Thời hạn thuê do các bên thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì được xác định theo mục đích thuê.

2. Trong trường hợp các bên không thoả thuận về thời hạn thuê hoặc thời hạn thuê không thể xác định được theo mục đích thuê thì hợp đồng thuê hết thời hạn khi bên thuê đã đạt được mục đích thuê.

>> Như vậy, việc vợ chồng bạn thuê xe là giao dịch dân sự do các bên thỏa thuận và giao dịch đấy có hợp pháp hay không phải phụ thuộc vào mục dích thuê mà các bên đã thỏa thuận về giá thuê, thời hạn thuê và  trong việc thuê xe này thì chồng bạn và người lái xe đều liên quan trực tiếp đến hợp đồng thuê xe đó

2. Về trách nhiệm đối với hợp đồng thuê

Theo bộ luật dân sự năm 2005:

Điều 489. Trả tiền thuê  

1. Bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng thời hạn đã thoả thuận; nếu không có thoả thuận về thời hạn trả tiền thuê thì thời hạn trả tiền thuê được xác định theo tập quán nơi trả tiền; nếu không thể xác định được thời hạn theo tập quán thì bên thuê phải trả tiền khi trả lại tài sản thuê.

2. Trong trường hợp các bên thoả thuận việc trả tiền thuê theo kỳ hạn thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nếu bên thuê không trả tiền trong ba kỳ liên tiếp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Điều 490. Trả lại tài sản thuê

1. Bên thuê phải trả lại tài sản thuê trong tình trạng như khi nhận, trừ hao mòn tự nhiên hoặc theo đúng như tình trạng đã thoả thuận; nếu giá trị của tài sản thuê bị giảm sút so với tình trạng khi nhận thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ hao mòn tự nhiên.

2. Trong trường hợp tài sản thuê là động sản thì địa điểm trả lại tài sản thuê là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên cho thuê, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Trong trường hợp tài sản thuê là gia súc, bên thuê phải trả lại gia súc đã thuê và cả gia súc được sinh ra trong thời gian thuê, nếu không có thoả thuận khác. Bên cho thuê phải thanh toán chi phí chăm sóc gia súc được sinh ra cho bên thuê.

4. Khi bên thuê chậm trả tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê trả lại tài sản thuê và trả tiền thuê trong thời gian chậm trả và phải bồi thường thiệt hại; bên thuê phải trả tiền phạt vi phạm do chậm trả tài sản thuê, nếu có thoả thuận.

5. Bên thuê phải chịu rủi ro xảy ra đối với tài sản thuê trong thời gian chậm trả.

Điều 303. Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật  

1. Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật.

2. Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ giao vật cùng loại thì phải thanh toán giá trị của vật.

3. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại cho bên có quyền thì ngoài việc thanh toán giá trị của vật còn phải bồi thường thiệt hại cho bên có quyền.

>> Như vậy, hai vợ chồng bạn phải trả  phải trả tiền thuê đến khi trả lại tài sản thuê theo hợp đồng thuê mà hai bên đã thỏa thuận và nếu bạn không trả tiền thuê sẽ vi phạm hợp đồng thuê tài sản giữa hai bên.Nên chồng bạn sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới về booig thường thiệt hai theo quy định tại điều 

Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

3. Về hình thức xử lý 

Nếu công an khởi tố vụ này ra toà thì người tài xế lái xe phải chịu trách nhiệm tùy theo tính chất mức độ nguy hiểm nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 202 của bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 như sau :

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

>> Như vậy, việc hai vợ chồng bạn không trả tiền thuê đã vi phạm về nghĩa vụ về trả tiền thuê và trả lại tài sản theo bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định. và hai bên có thể thỏa thuận về việc trả tiền thuê, khi vợ chồng bạn thực hiện xong nghĩa vụ thì sẽ nhận lại chiếc xe máy. họ căn cứ vào cái giao dịch thuê tài sản thì có thể khởi kiện đòi tiền thuê và tài sản cho thuê theo quy định.

4. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

  Chồng bạn hay tài xế lái xe gây ra tai nạn sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới để bồi thường thiệt hại trong trường hợp này. Để giải quyết ổn thỏa thì các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hai , nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.