Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật dân sự năm 2015

2. Luật sư tư vấn:

Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định như sau:

"Điều 116. Giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

...

Điều 385. Khái niệm hợp đồng

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

...

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

 

Điều 464. Quyền sở hữu đối với tài sản vay

Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó.

Điều 465. Nghĩa vụ của bên cho vay

1. Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận.

2. Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó.

3. Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan quy định khác.

 

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

Điều 467. Sử dụng tài sản vay

Các bên có thể thỏa thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay. Bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích.

 

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

 

Điều 469. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.

 

Điều 470. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.

2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

...

Điều 21. Người chưa thành niên

1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý."

Vậy hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên và phải đảm bảo các quy định của pháp luật

Xin chào Luật sư! Xin luật sư tư vấn giúp tôi vấn đề thế này. Anh tôi có vợ , sinh sống với nhau đã được 12 năm và có sinh một cháu hiện nay 10 tuổi. Do điều kiện kinh tế khó nên hai vợ chồng anh tôi định làm ăn và Vay của một người cùng xóm với số tiền 50.000 triệu đồng. Nhưng trước khi vay người cho vay yêu cầu gia đình anh tôi bao gồm cả bé con anh phải ký hợp đồng vay (Bên vay là gia đình anh tôi hai vợ chồng và bé cùng ký tên, Bên cho vay ký tên). Nhưng sau một năm làm ăn không lãi và gia đình anh tôi khó khăn hơn nên khi người cho vay đòi nợ mà không có tiền trả, nên người cho vay có kiện anh tôi ra tòa. Vậy xin hỏi luật sự trường hợp của giai đình anh tôi phải làm như thế nào để bảo vệ quyền lợi chính đáng của từng thành viên trong gia đình. Và việc cháu tôi cùng ký hợp đồng như vậy là đúng hay sai, quyền lợi của cháu tôi sẽ được pháp luật bảo vệ không? Xin trân trọng cảm ơn luật sư và mong nhậ được phản hồi từ luật sư.
Vợ chồng anh trai tôi là anh là có con (5 tuổi). Anh Ái vay tiền của một người, bên cho vay yêu cầu gia đình anh tôi kí tên bên vay. Bên vay có chữ kí của cả anh chị và cháu tôi. bên cho vay có chữ kí của người cho vay Sau 1 năm, anh tôi không có tiền trả nên người cho vay kiện ra tòa yêu cầu trả tiền? Tôi xin hỏi là Hợp đồng này có hợp pháp không và nếu kiện ra tòa thì tòa án sẽ xử lý hợp đồng ra sao?

Như đã trình bày trên Chủ thể của giao dịch dân sự phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện và đối với trẻ chưa thành niên cụ thể nếu trẻ chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện, Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi;

Vậy trong trường hợp hợp đồng vay được giao kết với trẻ chưa thành niên phải đảm bảo có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ, và độ tuổi phải phù hợ với giao dịch dân sự được xác lập và thể hiện sự hoàn toàn tự nguyện. Còn không hợp đồng vay sẽ bị tuyên vô hiệu với phần quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên.

Dear Minh Khuê, Mình muốn nhờ tư vấn giúp 1 trường hợp như sau : - BTD là 1 công ty cổ phần với vốn điều lệ là 2 tỷ. - BTD gồm và chỉ gồm 3 cổ đông sáng lập, trong đó có mình (19% cổ phần). - BTD có 2 đại diện pháp luật - Mình là Giám đốc - đồng đại diện pháp luật – đồng chủ tài khoản của BTD tại Vietcombank. Tình huống xảy ra là BTD có hợp đồng làm ăn lớn và cần số vốn 5 tỷ và mình đang có tiền cá nhân. Câu hỏi đặt ra là : 1) mình có thể cho BTD vay vốn với X% lãi suất dưới danh nghĩa cá nhân ko ? 2) Việc vay vốn cá nhân như vậy có cần phải tổ chức họp hội đồng thành viên của BTD để quyết định ko ? 3) Nếu được cho vay, trong hợp đồng vay vốn giữa BTD và mình, mình có thể ký cả 2 bên : bên vay và bên cho vay ko ? hay phải có chữ ký của tất cả các cổ đông. Mong sớm nhận được sự tư vấn của. Trân trọng cảm ơn,

Căn cứ vào quy định tại Luật doanh nghiệp cụ thể tại Điều 162. Hợp đồng, giao dịch phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận

1. Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận:

a) Cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ;

b) Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người có liên quan của họ;..."

Như vậy trong trường hợp hợp đồng giữa công ty với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận.

Em muốn lấy một ví dụ về hợp đồng vay tài sản có áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay để chứng minh cho quy định tại Khoản 2 Điều 410 BLDS 2005. Giải quyết tình huống đó theo quy định của pháp luật hiện hành.

Hiện nay Bộ luật dân sự năm 2005 đã hết hiệu lực thi hành tuy nhiên theo quy định tại Khoản 2 Điều 410 Bộ luật dân sự 2005 có quy định "Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự" ví dụ: Hợp đồng vay có tài sản thế chấp, hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp tài sản tách nhau nhưng khi hợp đồng vay vô hiệu thì hợp đồng thế chấp không vô hiệu bởi hợp đồng thế chấp là căn cứ để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên khi hợp đồng chính vô hiệu.

Xin mẫu xác nhận đường đi chào luật sư! Hiện tại em đang có nhu cầu vay vốn ngân hàng mà trong sổ đất lại không thể hiện đường đi. Em muốn viết đơn xin xác nhận đường đi thì em cần gửi đến đâu?

Về thủ tục xin xác nhận đường đi công dân có quyền gửi hồ sơ lên ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để cơ quan này xem xét, giải quyết.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê