1. Hưởng bảo hiểm trách nhiệm dân sự khi bị tai nạn giao thông như thế nào ?

Thưa luật sư, tôi có một thắc mắc muốn hỏi luật sư như sau ạ: Chồng tôi lái xe ô tô do vượt trong điều kiện không an toàn (khi đang vượt thì có xe tải đi ngược chiều nên phải đánh lái sang bên trái) và va vào 1 xe máy làm cho người điều khiển xe máy ngã xuống đường. Do lúc đó không có ai nên chồng tôi phải đưa nạn nhân đi cấp cứu và khi quay lại hiện trường thì gia đình tôi đã báo công an phường và công an giao thông ra giải quyết tai nạn. Người lái xe máy bị trấn thương và gia đình tôi đã bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền là 30tr và các chi phí nằm viện khác.
Vậy luật sư cho tôi hỏi với trường hợp như như vậy thì chồng tôi  sẽ được hưởng mức bảo hiểm trách nhiệm dân sự như thế nào (xe tôi mua đầy đủ bảo hiểm, giấy tờ xe, bằng lái...) ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn Luật Dân sự về bồi thường thiệt hại trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Đối với trường hợp bạn đề cập, chồng bạn lái xe oto do vượt trong điều kiện không an toàn (khi đang vượt thì có xe tải đi ngược chiều nên phải đánh lái sang bên trái) và va vào 1 xe máy. Làm cho người điều khiển xe máy ngã xuống đường.  Như vậy chồng bạn có là người có lỗi. Đồngt thời, theo thông  tin bạn cung cấp  thì xe chồng bạn mua đầy đủ bảo hiểm, giấy tờ xe, bằng lái...Do đó, chồng bạn đã đóng bảo hiểm trách nhiệm đối với xe cơ giới vậy anh sẽ được hưởng quyền bảo hiểm trừ khi anh thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 13 Nghị định số 103/2008/NĐ-CP Về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới sau đây:

Doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp sau:

1. Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe, hoặc của người bị thiệt hại.

2. Lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe, lái xe cơ giới.

3. Lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không phù hợp đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe.

4. Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại.

5. Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn.

6. Chiến tranh, khủng bố, động đất.

7. Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.

Do đó trong vòng 5 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn thì chồng bạn phải gửi thông báo bằng văn bản đến doanh nghiệp bảo hiểm kèm theo các tài liệu sau để yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm của xe cơ giới:

.-Tài liệu liên quan đến xe, lái xe;

- Các giấy tờ chứng minh thiệt hại về người và tài sản;

- Tài liệu liên quan của cơ quan có thẩm quyền về vụ tai nạn.

Mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm được quy định tại Khoản 4 Thông tư 126/2008/TT-BTC

Mức trách nhiệm bảo hiểm là số tiền tối đa doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả đối với thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản của bên thứ ba và hành khách do xe cơ giới gây ra trong mỗi vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. Cụ thể như sau:

4.1. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về người do xe cơ giới gây ra là 50.000.000 đồng/1 người/1 vụ tai nạn.

4.2. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) gây ra là 30.000.000 đồng/1 vụ tai nạn.

4.3. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo) gây ra là 50.000.000 đồng/1 vụ tai nạn.

Theo  quy định tại Khoản 5 Điều 1 Thông tư 126 sửa đổi, bổ sung Thông tư 126/2008/TT-BTC

"5. Sửa đổi, bổ sung Khoản 4, Mục II như sau:

Mức trách nhiệm bảo hiểm là số tiền tối đa doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả đối với thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản của bên thứ ba và hành khách do xe cơ giới; gây ra trong mỗi vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. Cụ thể như sau:

4.1. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về người do xe cơ giới gây ra là 70.000.000 đồng/1 người/1 vụ tai nạn.

4.2. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) gây ra là 40.000.000 đồng/1 vụ tai nạn.

4.3. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ- moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo) gây ra là 70.000.000 đồng/1 vụ tai nạn.”

Theo  đó,  Đối với thiệt hại về người:

- Mức bồi thường được xác định căn cứ vào quyết định của tòa án.

- Trong trường hợp không có quyết định của tòa án, mức bồi thường được xác định dựa trên Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người quy định tại Phụ lục số 6 ban hành kèm theo Thông tư 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008 của Bộ Tài chính.

- Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực bảo hiểm trước.

 Đối với thiệt hại về tài sản:

- Mức bồi thường được xác định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.

- Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực bảo hiểm trước.

-  Chi phí cần thiết và hợp lý nhằm ngăn ngừa, hạn chế tổn thất liên quan tới vụ tai nạn mà chủ xe cơ giới đã chi ra.

>> Xem ngay: Tai nạn giao thông gây chết người hai bên gia đình có thể tự hòa giải không liên quan đến pháp luật được không ?

2. Chế độ bảo hiểm khi bị tai nạn giao thông?

Em tôi đi làm ở một công ty và đóng bảo hiểm đầy đủ. Tháng 10/2016 do thu nhập không đảm bảo em tôi có chuyển sang công ty mới, công ty cũ đã chốt sổ bảo hiểm cho em tôi đến hết tháng 10/2016. Bắt đầu làm việc tại công ty mới từ ngày 01/11/2016. 

Ngày 28/11/2016 trên đường đi giao hàng em tôi bị tai nạn xe máy tử vong tại chỗ, công ty mới chưa đóng bảo hiểm cũng như các chế độ khác cho em tôi. Tôi xin hỏi luật sư trách nhiệm của công ty mới với em tôi như thế nào ? 

Cảm ơn!

- Vũ Hoài Sâm

3. Xác định trách nhiệm pháp luật của người gây tai nạn giao thông ?

Chào luật sư, 21h ngày 30/10/2016 vợ chồng tôi đang đi xe máy về nhà theo hướng nam bắc theo đúng làn đường dành cho xe mô tô thì bất ngờ bị 1 chiếc xe khách 52 chỗ tông từ phía sau đẩy chúng tôi vào lề, tôi bị văng vào bên trong lề còn chồng tôi cùng chiếc xe máy nằm dưới gầm xe. Hậu quả tôi bị gãy hở độ 1 xương cánh tay trái, chồng tôi bị tràn khí màn phổi 2 bên, gãy kín 1/2 xương đòn phải, gãy 3 xương sườn phải và gãy cổ phẫu thuật xương cánh tay trái. Tôi được thông tin là lúc tai nạn trên xe khách có hành khách giành tay lái của tài xế và hậu quả là tông vào chúng tôi. Thưa luật sư, với trường hợp gây tai nạn như tôi vừa trình bày thì theo luật nhà xe phải chịu trách nhiệm như thế nào, rất mong sự tư vấn hỗ trợ từ phía luật sư. Cảm ơn luật sư rất nhiều.
- Nguyễn Thị Minh Nga

4. Gây tai nạn giao thông làm chết người thì chịu trách nhiệm hình sự như thế nào ?

Chào Luật sư, tôi xin hỏi vấn đề​ sau: H điều khiển xe máy 92P1-xxxxx từ hướng Phạm Văn Đồng về đường Hồ Chí Minh theo đường Huỳnh Thúc Kháng để về nhà tại khối 1, Khâm Đức. Khi đi đến khu vực trước nhà số 112, đường Huỳnh Thúc Kháng thì từ phía bên lề phải đường (so với hướng đi của H) có cháu T ( sinh năm 2012) tự ý đi xuống lòng đường; H bất ngờ nên không kịp thắng mà chỉ điều khiển xe tránh sang phải, nhưng xe 92P1-xxxxx vẫn tông vào cháu Tiên. 
Khi bị tông, cháu Tiên văng sang bên trái đường, H sợ ngã nên không dừng xe ngay lập tức mà thắng (phanh) xe từ từ được một đoạn rồi mới dừng lại, sau đó H điều khiển xe quay lại chỗ cháu Tiên. H cùng với người nhà cháu Tiên chở cháu Tiên đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam. Hậu quả cháu Tiên chết. Khi H điều khiển xe thì có sử dụng chất kích thích đo được là 1.229mg/l khí thở. Vậy H có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Gây tai nạn giao thông làm chết người thì chịu trách nhiệm hình sự như thế nào ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề bạn đang thắc mắc chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi năm 2009, hành vi của H đã cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, cụ thể như sau:

"Điều 202.  Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.".

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự, thì:

“4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:

a. Làm chết một người;

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

4.2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây là "gây hậu quả rất nghiêm trọng" và phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự:

a. Làm chết hai người;

b. Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e tiểu mục 4.1 mục 4 này;

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 101% đến 200%;

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e tiểu mục 4.1 mục 4 này;

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng.

4.3. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây là "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" và phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 202 Bộ luật Hình sự:

a. Làm chết ba người trở lên;

b. Làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e tiểu mục 4.1 mục 4 này;

c. Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e tiểu mục 4.2 mục 4 này;

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của những người này trên 200%;

e. Gây tổn hại cho sức khoẻ của ba hoặc bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây thiệt hại về tài sản được hướng dẫn tại điểm e tiểu mục 4.2 mục 4 này;

g. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên.”

Theo đó, H đã điều khiển xe khi nồng độ cồn vượt quá mức cho phép, vi phạm quy định giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Theo quy định tại điều 8 Luật an toàn giao thông đường bộ:

"Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm...

8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở. ..."

Theo thông tin cung cấp ở trên, khi gây tai nạn, nồng độ cồn của H là 1.229 mg/lit khí thở, H có thể truy cứu TNHS theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự thì H còn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự.  Theo quy định hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP, việc xác định bồi thường như sau:

-Chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc cho người bị thiệt hại trước khi chết;

- Chi phí hợp lý cho việc mai táng, gồm các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung.

Trường hợp, người bị hại không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ai thì không phải bồi thường khoản cấp dưỡng này.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm. Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại.

Mức bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm do các bên thỏa thuận, nhưng không được vượt quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!                                  

>> Tham khảo ngay bài viết:  Bị tai nạn giao thông do lỗi của bên gây tai nạn ? Yêu cầu Viện Kiểm Sát, Công an khởi tố vụ án như thế nào ?

5. Trách nhiệm bồi thường do tai nạn giao thông khi người gây tai nạn bị chết ? 

Kính thưa Luật sư. Tôi tên là T hiện ở Đồng Tháp. Vừa qua gia đình của người chị bà con tôi có xảy vụ tai nạn giao thông làm cho chồng chị bị mất. Tôi xin trình bày sự việc như sau: Sau cuộc nhậu với bạn bè, chồng của chị tôi điều khiển xe về nhà trong tình trạng có rượu bia trong người, đồng thời cũng không đội mủ bảo hiểm và chạy với tốc độ cao do đó khi đến ngã tư giao nhau của khu công nghiệp đã tông vào xe của hai cô gái làm cho người ngồi sau bị gãy xương chậu, người ngồi trước chỉ bị xây xát nhẹ được chở đi bệnh viện cấp cứu, còn chồng của chị tôi bị nứt sọ cho đi bệnh viện trong tình trạng nguy kịch. Và qua vài ngày điều trị chồng của chị tôi mất. Còn hai cô gái kia người bị xây xát không yêu cầu bồi thường, còn người bị gãy xương chậu yêu cầu bồi thường. Qua sự việc gia đình chị tôi rất mong các vị luật sư có thể tư vấn cho chị tôi  biết được các nghĩa vụ đối với người bị tai nạn( vì lỗi thuộc chồng của chị tôi) như sau:

1/ Hiện nay chồng chị bị mất vậy gia đình của chị tôi có phải bồi thường cho cô gái gãy xương chậu kia không?

2/ Nếu bồi thường thì gia đình chị tôi phải bồi thường những khoản tiền nào?

3/ Hiện nay chị tôi đang nuôi con nhỏ dưới hai tuổi diều này có ảnh hưởng đến mức bồi thường không? Gia đình chị tôi rất mong nhận được sư giúp đỡ từ các vị luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn. 

>> Luật sư tư vấn Luật dân sự, giao thông trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này:

Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 có quy định:

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường thiệt  hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố:

- Phải có thiệt hại xảy ra gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất tinh thần;

- Phải có hành vi trái pháp luật: Là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động trái với các quy  định của pháp luật;

- Phải có mối quan hệ nhân qủa giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây thiệt hại.

- Phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại.

Căn cứ tình huống bạn trình bày cũng như quy định trên của pháp luật chồng của chị bạn do say rượu, không đội mũ bảo hiểm lại chạy với tốc độ cao gây tai nạn cho hai người phụ nữ trong đó có một người bị gãy xương chậu có thể thấy chồng chị bạn có lỗi trong việc gây thiệt hại cho người phụ nữ kia khiến người này bị thiệt hại về sức khỏe là gẫy xương chậu. Do đó, chồng chị bạn có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này. Tuy nhiên, chồng chị bạn đã bị mất trong vụ tai nạn nên trách nhiệm bồi thường sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 637 Bộ luật này:

Điều 637. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại  

1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.

3. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.

Theo đó, những người hưởng thừa kế của chồng chị bạn sẽ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ  bồi thường thiệt hại cho người phụ nữ kia.

Thứ hai, về  mức bồi thường:

Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 có quy định như sau:

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm  

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Theo đó, do chồng chị bạn gây tai nạn khiến người phụ nữ kia bị thiệt hại về sức khỏe là gẫy xương chậu nên gia đình chị bạn phải bồi thường cho người bị thiệt hại, bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Bên cạnh đó, gia đình chị bạn còn phải bồi thường  một khoản tiền khác để bù đắp tình thần mà người phụ nữ đó phải gánh chịu, ,mức bồi thường sẽ do hai bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định.

Thứ ba, về việc người phải bồi thường đang nuôi con nhỏ có ảnh hưởng đến mức bồi thường hay không?

Điều 605 Bộ luật dân sự 2005 có quy  định về nguyên tắc bồi thường như sau:

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Theo đó, mức bồi thường có thể được giảm nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại (hoặc người có trách nhiệm bồi thường). Theo đó, việc chị bạn nuôi con 2 tuổi không ảnh hưởng đến mức bồi thường mà việc được giảm hay không còn phải căn cứ vào việc gây ra tai nạn là do lỗi vô ý của chồng chị bạn và thiệt hại cần bồi thường quá lớn so với khả năng kinh tế của chị bạn hay không. 

>> Xem thêm:  Tôi gây tai nạn giao thông trong tình huống mất kiểm soát vì lý do sức khỏe thì phát luật xử lý như nào?

6. Tư vấn vấn đề bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư, em có một vấn đề cần hỏi như sau: Anh trai em vừa bị tai nạn giao thông. Trong quá trình lưu thông, anh em có chở thêm một người bạn và cả hai đều có uống rượu bia trước đó, người ngồi sau anh em lại không đội mũ bảo hiểm. 

Anh em gây ra tai nạn cho một xe gắn máy chở ba người. Gia đình em đã có đền bù cho ba người bị tai nạn đó. Duy chỉ có vấn đề của người bạn ngồi sau lưng anh em làm em thấy lúng túng. Vì trước đó, anh em không có ý định chở người bạn này nhưng người bạn này( em sẽ gọi là anh B) một mực đòi theo xe anh trai em. Nhưng nhà anh B đã đóng cửa nên anh ấy không đội mũ bảo hiểm. Khi đi được khoảng 500m thì gặp tai nạn. Gia đình anh B lúc đó đã yêu cầu nhà em đền bù 10 triệu cho anh B mổ chân( nhưng chi phí mổ lại không đến 10 triệu), bây giờ gia đình anh B lại yêu cầu thêm gia đình em đền bù thêm 5 triệu nữa mới đồng ý làm đơn bãi nại. Như vậy không phải là gia đình em chịu thiệt hay sao? Trong khi chi phí chịu bồi thường đều do gia đình em chịu, tiền nhập viện, tiền phẩu thuật cũng do gia đình em chịu, bậy giờ lại yêu cầu thêm 5 triệu nữa. Như vậy gia đình em có cần phải đưa thêm tiền cho anh B nữa hay không?

Em xin chân thành cảm ơn !

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Tại Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 quy định: 

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm  

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Như vậy, gia đình bạn phải bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1 điều này và một khoản tiền đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Nhưng trong trường hợp của bạn, anh B tự nguyện ngồi xe anh bạn, cả hai cùng tham gia giao thông và nếu có gặp tai nạn thì mỗi bên phải tự gánh chịu hậu quả do hành vi của tự nguyện của mình; cả hai bên phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường cho bên thiệt hại theo Khoản 1 Điều 609. Dựa trên thiệt hại thực tế để gia đình bạn xác định việc bồi thường cho anh B. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh KHuê