Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Theo đó, tại Điều 1 Mục I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP giải thích điều luật trên như sau:

"1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại 

Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLDS), về nguyên tắc chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: 

1.1. Phải có thiệt hại xảy ra. 

Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần. 

a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS. 

b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mấy uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm.. và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu. 

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu. 

1.2. Phải có hành vi trái pháp luật. 

Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật. 

1.3. Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại. 

1.4. Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại. 

a) Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. 

b) Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được. 

Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó
."

Đối chiếu theo các quy định trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đặt ra chỉ khi có đầy đủ các yếu tố:

- Có thiệt hại xảy ra;

- Có hành vi trái pháp luật;

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại;

- Phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại.

Trong trường hợp của cha bạn, vì bên B - bên có hành vi đặt ông bơm cát để giữa đường không có biển báo hay bất kỳ chỉ dẫn cảnh báo nguy hiểm nào cho người tham gia giao thông, mặc dù phải thấy trước hành vi của mình có thể gây ra thiệt hại cho người khác nhưng lại với lỗi vô ý, gây ra thiệt hại cho cha của bạn. Như vậy, hành vi này đủ 4 điều kiện như trên, cha bạn có quyền đòi yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp này.

Theo đó, mức bồi thường thiệt hại được xác định như sau:

Theo quy định tại Điều 617 Bộ luật dân sự năm 2005 xác định:

"Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường."

Vì trong trường hợp này cha của bạn tham gia giao thông, nhưng không sử dụng mũ bảo hiểm nên cũng góp phần gây ra thiệt hại với mức độ như trên thực tế. Vì vậy, khi có đơn khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án sẽ xác định mức độ lỗi của cha bạn trong trường hợp này, để xác định mức bồi thường hợp lý của bên B trong việc gây ra thiệt hại về sức khỏe cho cha của bạn. Mà pháp luật không quy định mức bồi thường trong từng trường hợp cụ thể là bao nhiêu % đối với thương tật của người bị thiệt hại. 

Những điều cần lưu ý: Pháp luật dân sự ưu tiên sự thỏa thuận của các bên đương sự, vì vậy, trước hết gia đình bạn và bên B có thể thỏa thuận với nhau về mức bồi thường cho hợp lý đối với các chi phí cứu chữa, thu nhập thực tế bị mất và các chi phí hợp lý khác, nếu không thỏa đáng, bạn có thể khởi kiện bên B đến Tòa án nhân dân nơi bên B cư trú, để Tòa án ấn định mức bồi thương hợp lý lúc này. 

Tham khảo bài viết liên quan:

Xác định mức bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ?

Khởi kiện bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật Dân sự.