Vì làm việc với nhau thời gian khá lâu nên cũng có sự tin tưởng. Thông thường, anh ấy sẽ đặt cọc tiền và thanh toán hết số tiền sau khi nhận hàng. Đợt vừa rồi anh ấy mua máy với giá trị 120.000.000đ  + tiền nợ của các đơn hàng trước còn 4.000.000đ. Tổng cộng 124.000.000đ. Vì sự tin tưởng của em, nên em đã cho giao hàng trước khi nhận tiền cọc. Cụ thể anh ấy nói đã chuyển tiền qua ngân hàng cho em vào khoảng 4h30 chiều. Cùng thời gian đó thì hàng về tới công ty của anh ấy, anh ấy đã nhận hàng. Trong khi em vẫn tin tưởng là anh ấy đã chuyển tiền xong. Em có yêu cầu anh ấy gửi biên lai chuyển vì chưa nhận được tin nhắn nhận tiền từ ngân hàng, anh ấy nói anh ấy đang lái xe nên gửi sau. Những ngày sau đó em liên hệ và báo với anh ấy là chưa nhận được tiền. Anh nó để anh ra ngân hàng kiểm tra. Sau đó vài ngày em không thể liên lạc được với anh ấy (gọi điện không nghe máy, nhắn tin không trả lời, dùng số khác gọi thì cúp máy khi nghe giọng của em...) Em nghĩ là anh ấy muốn quỵt số tiền 124.000.000đ.

Vậy theo luật sư trường hợp của em có thể khởi kiện được không? Em không có giấy tờ mua bán hàng hóa. Nhưng có những tin nhắn chứng mình em có giao hàng, và thỏa thuận thời gian, số tiền thanh toán hàng hóa, hứa hẹn kiểm tra lệnh chuyển tiền giữa em và anh ấy. Em cũng có biên lai giao nhận hàng với bên bên vận chuyển.

Mong luật sư tư vấn giúp em.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau: 

 

1. Cơ sở pháp lý:

-Bộ luật Dân sự năm 2005;

-Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi năm 2011

2. Nội dung phân tích

Điều 438 Bộ luật Dân sự quy định:

Nghĩa vụ trả tiền.

1. Bên mua phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm đã thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm giao tài sản.

2. Bên mua phải trả lãi, kể từ ngày chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 305 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Trong trường hợp khách hàng của bạn không trả tiền và bạn có các căn cứ như bạn đã trình bày thì có thể tiến hành khởi kiện. Tuy nhiên bạn cần lưu ý những vấn đề sau:

1. Thứ nhất là vụ việc còn trong thời hiệu khởi kiện :

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 thì thời hiệu khởi kiện là 02 năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Trong trường hợp vụ việc đã quá thời hạn thì đương sự cần lưu ý đến trường thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 161 Bộ luật dân sự hoặc thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại theo Điều 158 và Điều 162 Bộ luật dân sự.

2. Thứ hai là việc nộp hồ sơ khởi kiện phải đúng thẩm quyền của Tòa án:

Căn cứ Điều 33, Điều 34, Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án cấp Huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc để khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nếu đương sự không ở nước ngoài, tài sản tranh chấp không ở nước ngoài và không cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan ở nước ngoài. Nếu đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản tranh chấp ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan ở nước ngoài thì đương sự phải yêu cầu Tòa án cấp Tỉnh nơi bị đơn cư trú, làm việc để khởi kiện.

3. Thứ ba là hồ sơ khởi kiện phải đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật:

Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

- Đơn khởi kiện: 

- Giấy tờ vay nợ và các tài liệu khác.

- Giấy xác nhận của cơ quan nhà nước về địa chỉ cư trú, làm việc của bị đơn

- Chứng minh nhân dân và Hộ khẩu của người khởi kiện

- Giấy tờ chứng minh vụ việc vẫn còn thời hiệu khởi kiện (nếu có).

4. Thủ tục giải quyết đòi nợ tại tòa án

*Thủ tục thụ lý vụ án

Sau khi nhận hồ sơ khởi kiện nếu vụ việc thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Nếu vụ việc không thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện nhưng Đơn khởi kiện chưa đúng mẫu quy định hoặc không đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo thời hạn ấn định.

Nếu vụ việc đủ điều kiện khởi kiện và đơn khởi kiện đã làm đúng theo quy định thì Tòa án cho người khởi kiện nộp tạm ứng án phí trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo.

*Thời hạn giải quyết vụ án:

Thời hạn hòa giải và chuẩn bị xét xử là từ 4-6 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án

Thời hạn mở phiên tòa: Trong thời hạn tối đa 02 tháng, kể từ ngày đưa vụ án ra xét xử.

Thời hạn hoãn phiên toà: không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật dân sự.