Nếu không đựơc như vậy ông H sẽ hoàn lại tiền đóng góp cộng thêm lãi suất bằng lãi suất tiền gửi ngân hàng . Sau đó tôi phát hiện ra ông H khi đóng tiền không lấy tên tôi đứng tên cổ phần mà chỉ lấy tên ông H và số tiền ông H thực đóng là 50.000.000/1 ha rừng , 10 ha rừng chỉ có 500.000.000 đ chứ không phải 750.000.000đ như ông H đã nói . Khi tôi phát hiện đựơc sự việc ông H đã phải thừa nhận còn cầm của chúng tôi 250.000.000 đ , sau đó tôi tôi yêu cầu rút vốn như thỏa thuận ông H đã chấp thuận ký giấy hoàn lại tiền như cam kết với nhau ( 750.000.000 đ + lãi tiền gửi ) hẹn trả trước 31/12/2014 cho đến nay ( tháng 9/2015 ) ông H không chịu trả Ông H còn mời tôi đóng tiền đầu tư thành lập phòng công chứng với mức đóng góp 600.000.000 đ tương đương 20 % vốn thành lập với cam kết của ông H là khi nào tôi cần rút vốn sẽ đựơc thanh toán ngay sau 3 ngày làm việc (gồm vôn góp 600.000.000 đ cộng với tiền lãi gữi ngân hàng hoặc 20% giá trị tăng trưởng cuả dự án ) . Ngày 12/3/2015 nhận thấy ông H làm ăn không đường hoàng tôi yêu cầu được rút vôn theo thỏa thuận nhưng ông H không thực hiện như cam kết đã ký mãi đến cuối tháng 7 mới chuyển cho tôi 600.000.000 đ với tin nhắn trả tiền vốn đầu tư phòng công chứng và sau đó tôi liên tục gửi đơn yêu cầu rút vốn theo đúng thỏa thuận (gồm vốn 600.000.000 đ cộng lãi suất gửi ngân hàng ) nhưng ông H cố tình làm ngơ .

Tôi xin được quý công ty tư vấn : Với các tình tiết như trên , tôi có thể kiện ông H ra tòa án dân sự để đòi tiền hay kiện ông H ra tòa hình sụ vì tội lừa đảo ?

Kính xin được quý công ty giúp đỡ, Tôi trân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn kiện đòi lại tiền?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Rất cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi vào chuyên mục của chúng tôi.Trường hợp của bạn được giải quyết như sau :

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

2. Nội dung phân tích: 

Dựa vào nhưng tình tiết mà bạn đưa ra chúng tôi có thể nhận xét rằng hành vi của ông H có yếu tố lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bạn. Không có bất kì tình huống bất khả kháng nào, và ông H biết nhưng vẫn cố tình không trả lại tiền cho bạn.

 Căn cứ vào Điều 255 Bộ luật dân sự về Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu

"Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật."

Chính vì thế, bạn có quyền đòi lại tài sản cụ thể ở đây là tiền vì thuộc sở hưu của bạn, căn cứ vào Điều 256 Bộ luật dân sự:

"Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này."

- Hoặc bạn cũng có thể tố cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu việc này đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 BLHS: 

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê