1. Hướng dẫn thủ tục từ chối nhận di sản thừa kế?

Thưa luật sư! Mẹ tôi muốn từ chối tài sản do ông bà để lại cho các cậu thì cần những hồ sơ giấy tờ gì kèm theo quy định tại điều khoản nào. Hiện tại cậu tôi ở Thanh hóa. Tài sản là đất đai ở Thanh hóa. Mẹ tôi đã đang định cư tại Quảng nam. Bà ngoại tôi vẫn còn sống và đang ở Thanh hóa ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Hướng dẫn thủ tục từ chối nhận di sản thừa kế?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo Căn cứ Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định chi tiết về từ chối di sản như sau:

"Điều 642. Từ chối nhận di sản

1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.

3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế."

Theo đó, Căn cứ Điều 59 Luật công chứng số 53/2014/QH13 của Quốc hội quy định Công chứng văn bản từ chối nhận di sản:

" Người thừa kế có thể yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản. Khi yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản, người yêu cầu công chứng phải xuất trình bản sao di chúc trong trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người yêu cầu công chứng theo pháp luật về thừa kế; giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết"

Như vậy, bạn cần lập thành văn bản về việc từ chối nhận di sản trên và thông báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.Khi công chứng văn bản trên thì cần bản sao di chúc trong trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người yêu cầu công chứng theo pháp luật về thừa kế; giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Giấy từ chối nhận di sản

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Người chưa thành niên có được từ chối nhận di sản thừa kế ?

Thưa luật sư, tôi đưa con lên Phòng công chứng để làm Văn bản chia di sản thừa kế thì bị Phòng công chứng từ chối với lý do có con chưa thành niên, nếu cùng ký Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thì sẽ vi phạm khoản 5 điều 144 Bộ luật Dân sự. Vậy, bạn tôi phải làm gì để được nhận di sản thừa kế? Xin cảm ơn!

Người chưa thành niên có được từ chối nhận di sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty Luật Minh Khuê . Với thắc mắc của bạn, Công ty Luật Minh Khuê xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Căn cứ theo Điều 676 bộ luật dân sự năm 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết…”

Do vợ của bạn bạn mất không để lại di chúc nên di sản thừa kế của chị sẽ được chia theo quy định của pháp luật. Những người ở hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha mẹ, con của người chết. Bố mẹ vợ đều đã chết nên những người được quyền hưởng di sản thừa kế sẽ bao gồm: chồng và 4 người con. Mỗi người sẽ được hưởng một phần bằng nhau trong di sản thừa kế. Trong trường hợp 4 người con đồng ý từ chối nhận di sản là quyền sử dụng đất thì bố được nhận toàn bộ di sản thừa kế và được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, người con út của năm nay mới được 13 tuổi_ là người chưa thành niên, người mẹ đã mất do đó bố sẽ là người đại diện theo pháp luật của cháu.

Mà theo Điều 144 bộ luật dân sự năm 2005 quy định về phạm vi đại diện:

“1. Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền.

3. Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

4. Người đại diện phải thông báo cho người thứ ba trong giao dịch dân sự biết về phạm vi đại diện của mình.

5. Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Người bố - người đại diện theo pháp luật của cháu có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện. Người bố- người đại diện theo pháp luật không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Do đó, trong trường hợp này, người bố không thể đứng ra là người đại diện theo pháp luật để từ chối nhận di sản thừa kế cho con vì: việc từ chối nhận di sản là giao dịch liên quan trực tiếp đến người cha là người đại diện theo pháp luật cho con. Mặt khác, giao dịch này không phục vụ lợi ích của cháu.

Trong trường hợp này, bạn của bạn vẫn có thể thực hiện làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Ba người con đã thành niên có thể lập một văn bản từ chối nhận di sản thừa kế và đồng ý cho bố đứng tên trên quyền sử dụng đất. Đối với phần di sản mà người con út được nhận thì do cháu chưa thành niên nên cháu không thể tự mình hoặc thông qua bố để từ chối nhận di sản của mẹ để cho bố hưởng thừa kế. Tuy nhiên, bố vẫn là người đứng ra quản lý, sử dụng vì mục đích của con và phải đợi đến khi cháu út đủ 18 tuổi thì có thể làm một văn bản tặng cho quyền sử dụng đất cho bố.

Trân trọng ./.

3. Có công chứng văn bản từ chối nhận di sản thừa kế tại các tỉnh khác nơi có di sản thừa kế được không ?

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có một số thắc mắc muốn được tư vấn như sau: Bố mẹ tôi có một mảnh đất ở quê, hiện nay bố mẹ tôi đều đã mất cả, khi bố mẹ tôi mất thì ông bà tôi đã mất trước đấy rồi, chỉ còn lại hai anh em tôi là người thừa kế. Bây giờ tôi không muốn hưởng di sản thừa kế đó và nhường lại hết cho em trai tôi. Tôi và em trai đang làm việc tại một tỉnh khác, do đường sá không thuận tiện nôi tôi muốn công chứng văn bản từ chối hưởng di sản thừa kế tại tỉnh tôi đang công tác có được không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Có công chứng văn bản từ chối nhận di sản thừa kế tại các tỉnh khác nơi có di sản thừa kế được không ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào anh, cảm ơn anh đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, vấn đề của anh xin được tư vấn như sau:

Về vấn đề này, tài sản thừa kế là bất động sản nên sẽ được thực hiện như sau:

"Điều 42. Phạm vi công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản (Luật công chứng 2014)

Công chứng viên của tổ chức hành, nghề công chứng chỉ được công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản."

Như vậy, theo quy định trên thì văn bản từ chối nhận di sản là bất động động sản thì không bắt buộc phải công chứng tại tại tổ chức hành nghề công chứng trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có bất động sản.

Địa điểm công chứng sẽ được tuân thủ quy định tại Điều 44 Luật Công chứng 2014:

"Điều 44. Địa điểm công chứng

1. Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng."

Trân trọng./.

4. Hủy bỏ giá trị di chúc trong trường hợp từ chối nhận di sản thừa kế ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Gia đình tôi có 8 anh chị em. Vào năm 2009, mẹ tôi bị bệnh cần có người chăm sóc. Anh trai thứ Sáu tôi đến chăm sóc cho mẹ tôi khi bị bệnh (và chia ca với 1 số anh em khác) và các anh chị em khác cũng có đóng góp tiền thuốc men lo cho cha mẹ tôi.

Khi đó một số thành viên trong gia đình có ý định căn nhà mà cha mẹ tôi đang ở sau này sẽ giao cho anh thứ Sáu để bảo quản và thờ cúng ông, bà. Thời gian sau, người anh thứ Sáu này nói rằng không muốn nhận nhà,đề nghị nhận tiền bồi dưỡng từ các em cho các ngày trực (khoảng 2,3 triệu/1 tháng). Cho đến nay hơn 100 triệu. Vào năm 2012, Mẹ tôi mất. Anh thứ này tiếp tục nhận tiền bồi dưỡng cho đến nay Tuy nhiên đến hôm nay (khoảng đầu tháng 4/2015), gia đình phát hiện ra 1 tờ di chúc (chứng thực ở Phường) .

Tờ di chúc này được ký vào năm 2009, không thấy có người làm chứng, chỉ có Chủ tịch Phường ký. có dấu lăn tay của cha mẹ tôi, và câu tôi đã đọc và đồng ý; chỉ có nội dung là giao cho Anh thứ Sáu mà không có điều kiện phải chăm sóc, phụng dưỡng, lo thờ cúng... Tờ di chúc này cả gia đình đều không ai biết. Cha tôi hiện nay đã lớn tuổi nên cũng không nhớ vì lúc đó mọi người đều lo cho bệnh tình của mẹ tôi. Ngày 10/4/2015, Gia đình đã tổ chức cuộc họp và người anh thứ Sáu nói rằng sẽ không nhận nhà. Khi liên hệ UBND Phường thì được thông báo không thể từ chối thừa kế do mẹ tôi đã mất. Vậy xin hỏi có cách nào hủy bỏ giấy thừa kế (anh này không nhận nhà nhưng vẫn muốn chia ca để nhận tiền bồi dưỡng). Căn nhà sẽ làm nhà từ đường thờ cúng ông bà và thừa kế theo phát luật ?

Xin được nhận ý kiến tư vấn từ Luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: L.N.L

Hủy bỏ giá trị di chúc trong trường hợp từ chối nhận di sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế tài sản trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Qua các tình tiết mà bạn đưa ra, chúng tôi nhận thấy:

Trước hết, cần xem xét tính hợp pháp của di chúc. Pháp luật quy định di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện quy định tại Điều 652 khoản 1 Bộ luật dân sự 2005, cụ thể như sau:

Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

Di chúc mẹ bạn để lại có công chứng, chứng thực cần được đảm bảo thủ tục lập di chúc, quy định tại Điều 658 Bộ luật dân sự 2005.

Điều 657. Di chúc có công chứng hoặc chứng thực

Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc.

Điều 658. Thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn

Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:

1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc;

2. Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

Trường hợp 1: Nếu ngôi nhà là tài sản chung của bố mẹ bạn thì bố mẹ bạn đã lập di chúc chung của vợ, chồng, để định đoạt tài sản chung là ngôi nhà. Pháp luật quy định về di chúc chung của vợ, chồng như sau:

Điều 663, điều 664, điều 668 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 663. Di chúc chung của vợ, chồng

Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung.

Điều 664. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng

1. Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào.

2. Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.

Điều 668. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng

Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết.

Như vậy, mẹ bạn mất vào năm 2012, tuy nhiên bố bạn vẫn còn sống, do vậy, di chúc chung của bố mẹ bạn vẫn chưa có hiệu lực pháp luật. Điều 668 Bộ luật dân sự 2005 quy định "Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết."

Chính vì vậy, do di chúc chung chưa có hiệu lực pháp luật nên tài sản ngôi nhà chưa được định đoạt, anh thứ Sáu của bạn có thể chờ đến thời điểm mở thừa kế để hoàn thành thủ tục từ chối nhận di sản thừa kế, khi đó di sản thừa kế được chia theo pháp luật, quy định tại điều 675 khoản 1 Bộ luật dân sự 2005.

Trường hơp 2: Ngôi nhà là tài sản riêng của mẹ bạn thì thời điểm mở thừa kế là năm 2012 (khi mẹ bạn mất). Điều 642 Bộ luật dân sự 2005 quy định về việc từ chối nhận di sản như sau:

Điều 642. Từ chối nhận di sản

1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.

3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế.

Như vậy, trong trường hợp này, anh thứ Sáu của bạn không còn quyền từ chối nhận di sản vì đã hết thời hạn từ chối nhận di sản (sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế). Trong cuộc họp gia đình bạn, mọi người thống nhất: "anh thứ Sáu không nhận nhà nhưng vẫn muốn chia ca để nhận tiền bồi dưỡng, căn nhà sẽ làm nhà từ đường thờ cúng ông bà và thừa kế theo phát luật"; tuy nhiên anh thứ Sáu đã mất quyền từ chối nhận di sản, nên việc gia đình bạn thống nhất có thể thực hiện theo thỏa thuận dân sự của các bên, sau khi anh thứ Sáu nhận di sản thừa kế.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

5. Quyền từ chối nhận di sản thừa kế là nhà của người Việt Nam định cư ở nước ngoài ?

THưa luật sư, Ngôi nhà mà chú tôi đang sinh sống là của ông bà nội tôi. Sau khi ông mất, bà nội tôi, gia đình tôi và chú cùng chung sống tại ngôi nhà này. Năm 1990 gia đình tôi ra nước ngoài định cư, năm 1994 bà nội tôi mất. Nhưng ngôi nhà chú tôi ở vẫn chưa được cấp sổ đỏ. Hiện nay bố tôi không có ý định về nước sinh sống nữa và muốn nhường lại phần của bố tôi cho chú tôi được hưởng. Vậy chú tôi phải làm gì để được hợp thức hoá ngôi nhà?
Gửi bởi: Võ Quý Lân

Trả lời :

Khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995 (1) Khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b. Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c. Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”. quy định:

Quyền từ chối nhận di sản thừa kế là nhà của người Việt Nam định cư ở nước ngoài ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

“Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. Do đó, bố và chú anh là những người thừa kế theo pháp luật của ông bà. Ngôi nhà mà chú anh đang sử dụng là di sản thừa kế chưa chia của ông bà cho các con là bố anh và chú anh. Vì thời điểm mở thừa kế lần cuối cùng đối với di sản của ông bà là vào năm 1994 (thời điểm bà nội mất) nên căn cứ Điều 648 Bộ luật dân sự năm 1995(2)(2) Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”. thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế là đã hết vào năm 2004.
Điều 648 Bộ luật dân sự năm 1995: “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế”. Theo dữ kiện anh nêu thì hiện nay gia đình anh đang định cư ở nước ngoài chỉ có một mình người chú ở lại nhà đất của ông bà và bố anh cũng có ý định nhường lại phần thừa kế của mình cho người chú của anh được hưởng. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 684 Bộ luật dân sự năm 1995 (điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005) quy định: “Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố thì những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:
...
b. cách thức phân chia di sản”. Khoản 2 Điều 684 Bộ luật dân sự năm 1995 (điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005) quy định: “Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản”. Do vậy, bố anh có thể thoả thuận cùng người chú để nhường lại kỷ phần của mình cho người chú và đồng ý để cho chú được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì theo quy định tại khoản 1 Điều 645 Bộ luật dân sự năm 1995 (khoản 1 Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005) thì “người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản...”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 50 luật đất đai 2003 quy định:
“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

c. Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất...”. Do đó khi có văn bản thoả thuận về việc chia di sản thừa kế giữa bố anh và chú anh thì văn bản này cũng được coi là giấy tờ hợp pháp về thừa kế để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định nêu trên.
Khoản 1 Điều 129 Luật đất đai năm 2003 quy định trình tự thủ tục đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất:
“Việc nộp hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất được quy định như sau:
a. Hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì nộp tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

b. Hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất gồm di chúc hoặc biên bản phân chia thừa kế... và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Liên hệ sử dụng dịch vụ hoặc tư vấn luật đất đai:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ tư vấn luật đất đai: 1900.6162

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai;

6. Chia thừa kế theo đúng quy định của pháp luật ?

Thưa luật sư, Tháng 4 năm 2016, ông Nam đến phòng công chứng làm di chúc để định đoạt số tiền gửi tiết kiệm là 200 triệu đồng mà ông được hưởng thừa kế từ cha, mẹ ruột của ông (cả hai đã mất). theo di chúc ông Nam để lại toàn bộ số tiền này cho Hoàng – 20 tuổi, là con của ông với vợ là bà Nguyệt. Phần căn nhà của vợ chồng ông Nam trị giá 1.5 tỷ không được làm di chúc. Ngoài ra, ông nam và bà nguyệt còn có 1 người con là hải 12 tuổi.
Như vậy, hải có nhận dược phần di sản thừa kế hay không?
Tôi xin cảm ơn!

Chia thừa kế theo đúng quy định của pháp luật 2018

Luật sư trả lời:

Hoàng sẽ nhận dược khoản tiền 200tr theo như di chúc ông Nam để lại.

Còn phần ngôi nhà trị giá 1,5 tỷ đồng không được nhắc đến trong di chúc sẽ được áp dụng theo quy định của Khoản 2 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015 về những trường hợp thừa kế theo pháp luật

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

Xác định tai sản:

Ông Nam = bà Nguyệt = 750 triệu đồng (vì đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân)

=> 750 triệu của ông Nam sẽ được chia đều cho bà Nguyệt và hai con trai.

Bà Nguyệt = Hoàng = Hải = 250 triệu

Như vậy:

Bà Nguyệt = 750tr + 250tr = 1 tỷ

Hoàng = 200 + 250 = 450 triệu

Hải = 250 triệu

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê