(căn nhà số 870/31/15C phường 8 quận tân bình) mà tôi đang vay tại ngân hàng Acho bà Thủy, nhưng khi giải chấp xong bà Thủy giữ luôn, nhiều lần tránh né và biện lý do ngân hàng không cho vay nữa, để bà Thủy âm thầm thực hiện âm mưu của mình, tự đông mang giấy tờ sở hữu nhà của tôi ( tôi và vợ tôi đứng tên)sang qua tên vợ chông của bà Thủy sau khi sang tên xong, rồi thuê giang hồ ( khoảng 20 người) đến nhà tôi đuổi Mẹ và các em tôi ra ngoài để lấy nhà, nhiều lần thực hiện không được,bà Thủy mang giấy tờ nhà của tôi đến ngân hàng TMCP B để vay 900.000.000 (chín trăm triệu đồng gồm 2 hạng mức vay thế chấp 700.000.000đ và vay tiêu dùng 200.000.000đ) với tài sản thế chấp căn nhà của tôi, mà bà Thủy đã sang tên ,được ngân hàng định giá 1 tỷ đồng, rồi sau đó làm cam kết bán nhà ngược lại cho tôi với giá 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng)bắt tôi phải trả khoảng nợ 700.000.000đ cả lãi và vốn ,bà Thủy và ông Hùng đã dùng giang hồ uy hiếp tôi ,tôi sợ quá đành phải ký.

Tôi chỉ nợ bà Thủy năm trăm triệu đồng và khoảng phí giải chấp là năm triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng ( 500.000.000đ + 5.166.667đ) từ thời điểm ngày 27/06/2010 đến ngày 22/03/2011 bà Thủy tính lãi làm sao tôi không biết, thành tôi nợ bảy trăm triệu đồng ( 700.000.000đ) là thời gian mà bà đã đi làm giấy tờ nhà và nhiều lần dùng gian hồ đuổi mọi người trong gia đình tôi để lấy nhà mà không được nên đành cầm giấy tờ nhà đi vay, bắt tôi phải trả theo cam kết. + Nay tôi làm đơn này xin trình bày cho quý cơ quan được rõ tường tận vấn đề,và nói rõ những sai trái âm mưu của bà Thủy như sau 1 _bà Thủy đã lừa tôi làm ủy quyền khi tôi nhờ giải chấp 2 _khi giải chấp xong bà Thủy không cùng tôi đi vay ngân hàng khác hoặc vay lại ngân hàng cũ như lời đã nói trước khi giải chấp để trả nợ qua cho bà Thủy 3 _tôi chỉ công chứng ủy quyền (theo yêu cầu của bà Thủy) không công chứng mua bán nhà mà sao bà Thủy lại sang tên qua vợ chồng bà vẫn được, khi sang tên đổi chủ khác tôi chưa ký xác nhận 4 _khi sang tên qua người khác bà Thủy không thông báo cho tôi biết 5 _bà Thủy nhiều lần dùng gian hồ uy hiếp tôi và gia đình tôi,đuổi gia đình tôi ra ngoài để lấy nhà khi đã sang tên giấy tờ nhà qua vợ chồng bà Thủy 6 _bà Thủy làm nghề cho vay nặng lãi không có giấy phép kinh doanh nên tính lãi xuất quá cao tôi không trả nổi 7 _từ 27/06/2010đến ngày 22/03/2011 là thời gian mà bà Thủy đi sang tên qua cho mình và đánh đuổi gia đình tôi ra ngoài để lấy nhà ,thực hiện không được thì lại bắt tôi phải trả khoản lãi xuất quá cao 8 _thực hiện âm mưu lấy nhà không được bà Thủy dùng phương án đem hồ sơ nhà đi vay khi đã sang tên qua mình 9 _bà Thủy dùng tiền bôi trơn tất cả các cơ quan, để sang tên giấy tờ nhà vì tôi không ra ký giấy tờ sang tên đăng bộ ....để thực hiện âm mưu chiếm đoạt căn nhà của gia đình tôi cho bằng được bất chấp thủ đoạn 10 _bà Thủy dùng tiền bôi trơn ngân hàng TMCP B để được vay, vì ngân hàng khi cho vay không đến nhà tôi khảo sát cụ thể để định giá, định giá 1 tỷ đồng mà ngân hàng cho vay đến 9 trăm triệu đồng + về phía ngân hàng TMCP B _ khi cho bà Thủy vay không đến nhà tôi để khảo sát _ định giá 1 tỷ đồng mà ngân hàng cho vay đến 9 trăm triệu đồng _ tôi chỉ ủy quyền cho bà Thủy không có ủy quyền cho ÔNG H, vậy mà sao ông HÙNG vẫn vay tiêu dùng được hai trăm triệu.

+ về phía đội thi hành án quận T. B _ Từ thời gian tiếp nhẫn hô sơ từ tòa án quận P.N cho đến khi thực hiện tranh chấp tài sản kê biên 24/08/2015 không gởi bất cứ thông báo hay giấy tờ gì cho gia đình tôi biết (sau đó gia đình tôi nói mới đến nhà gởi) _ bà S nhân viên thi hành án quận T.B đã biết căn nhà của tôi đang bị tranh chấp quyền sở hữu (mà vẫn ra quyết định bán đấu giá căn nhà của tôi,không biết bà đã có nhận tiền bôi trơn của bà Thủy hay không mà lại ép gia đình tôi vô đường cùng _ hôm 24/08/2015 sau khi làm việc xong trong biên bản làm việc bà S có ghi căn nhà số 870/31/15c thuộc quyền sở hữu của bà Thủy và ông Hùng bà S đang giải quyết vấn đề V/v khởi kiện TRANH CHẤP tài sản kê biên tôi không đồng ý nhưng bà Soa vẫn không chấp nhận bỏ ý đó trong biên bản làm việc _ thông báo bán đấu giá căn nhà của tôi ngày 21/12/2015 do bà S ký chưa đến gia đình tôi (ngày 23/12/2015 do ông Phong mang đến) mà ngày 22/12/2015 đã có người đến hỏi mẹ tôi nghe nói nhà đang bán đấu giá,như vậy bà S đã đồng lõa kết hợp với bà Thủy nên mọi thông tin bà Thủy đều biết trước đây là vấn đề mà làm cho gia đình tôi giật mình và vô cùng hoang mang _ bà S đã biết tôi và bà Thủy đang tranh chấp quyền sở hữu căn nhà của tôi vậy mà vẫn ra thông báo bán đấu giá căn nhà của tôi + về phía ủy ban nhân dân quận Tân Bình và tài nguyên môi trường quận Tân Bình _ người được ủy quyền không được đứng mua tài sản ủy quyền, vậy mà vẫn ký sang quyền sỡ hữu nhà của tôi cho bà Thủy _ tôi chưa ký giấy đăng bộ sang tên sỡ hữu cho bà Thủy vậy mà ủy ban nhân dân quận Tân Bình và tài nguyen môi trường quận Tân Bình cấp quyền sỡ hữu nhà và đất cho bà Thủy hiện nay đội thi hành án quận tân bình đang phát mãi bán nhà của tôi. Vậy tôi kiếu nại, kiện ai ở đâu? 

Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến,  gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Bộ luật hình sự 1999

Luật khiếu nại 2011

Luật thi hành án dân sự 2008

2. Nội dung tư vấn:

Theo nội dung bạn trình bày, căn cứ theo quy định tại Điều 410, Điều 132, Điều 136 của Bộ luật dân sự 2005 quy định: 

Điều 410. Hợp đồng dân sự vô hiệu   

1. Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.

2. Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

3. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thoả thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.

Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa  

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.

Điều 136. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu  

1. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.

2. Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.

Trước hết, hợp đồng mua lại nhà của bạn với bà Thủy, ông Hùng là hợp đồng vô hiệu, thuộc trường hợp hợp đồng vô hiệu do bị đe dọa. Tuy nhiên, do hợp đồng được giao kết từ năm 2010, tính đến nay được hơn năm năm, do đó, đã hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Tiếp đến, việc gia đình bà Thủy, ông Hùng ép buộc ủy quyền, tự ý sang tên nhà đất của bạn là hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 của Bộ luật hình sự 1999. Bạn có thể gửi đơn yêu cầu lên cơ quan công an để được xem xét và giải quyết.

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo quy định tại Điều 75 Luật Thi hành án dân sự 2008 “Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền”. Như vậy, về nguyên tắc nêu tài sản đang có tranh chấp thì chấp hành viên chỉ được xử lý tài sản khi có quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp". Do đó, việc bà S, chấp hành viên tiến hành kê biên, đưa tài sản (nhà đất) bán đấu giá khi tài sản đang tranh chấp chưa có kết luận của Tòa án là không phù hợp với quy định tại Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.

Để bảo vệ quyền lợi của mình bạn có thể gửi đơn khiếu nại lên UBND tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án hành chính để được xem xét, giải quyết theo quy định tại Điều 7 Luật khiếu nại 2011:

Điều 7. Trình tự khiếu nại

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự qua EmailTư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư dân sự - Công ty luật Minh Khuê