Sau khi nhận được quyết định tôi có gửi qua thi hành án để được giúp đỡ thu trợ cấp hàng tháng. Từ tháng 9/2014 đến tháng 2/2015 tôi có nhận được tiền trợ cấp từ thi hành án, nhưng sau đó chồng tôi lấy lý do tôi cho con ra Bắc anh ta không gặp con nên không đóng tiền trợ cấp (mặc dù thời gian trước đó anh ta không một lần hỏi han thăm con), và đòi kiện tôi ra toà vì chia rẽ tình cảm cha con. Thi hành án nói sẽ tạm ngưng không thu tiền chờ qđịnh của toà trong 1 tháng. Nhưng kể từ đó đến nay đã rất lâu nhưng tôi không nhận được bất kì thông báo nào từ tòa cũng như thi hành án. Mỗi khi tôi liên lạc đến đội thi hành án thì đều nhận được câu trả lời: không liên lạc được với anh ấy, hay chúng tôi sẽ cố gắng liên lạc.

Vậy xin luật sư cho tôi hỏi: Như vậy thi hành án đã thực hiện đúng chức trách của mình hay chưa? Nếu họ đang làm sai, tôi nên làm gì, hay nộp đơn bộ phận nào để được giúp đỡ của pháp luật đây?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự  của công ty Luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê, đối với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp và tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật thi hành án dân sự 2008 

Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung  năm 2014 

Luật hôn nhân gia đình 2014 

2. Nội dung tư vấn:

Theo Điều 2 Luật thi hành án sửa đỏi bổ sung năm 2014 có quy định:

Điều 2.

1. Đối với các việc thi hành án đã được thi hành xong trước thời điểm Luật này có hiệu lực mà sau khi Luật này có hiệu lực đương sự còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 để giải quyết.

Đối với các việc thi hành án đến thời điểm Luật này có hiệu lực mà chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì áp dụng các quy định của Luật này để thi hành; các quyết định, hành vi của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đã được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 có giá trị thi hành.

2. Đối với trường hợp đã trả đơn yêu cầu thi hành án trước ngày Luật này có hiệu lực thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi đương sự yêu cầu theo quy định của Luật này.

3. Người có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 hoặc điểm a khoản 3 Điều 18 của Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12, cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp hoặc Chấp hành viên trung cấp không qua thi tuyển.

Thời hạn thực hiện việc bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển theo quy định tại khoản này là 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Chính phủ quy định danh sách các cơ quan thi hành án dân sự thuộc địa bàn được tuyển chọn, bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển theo quy định tại khoản này.

4. Đối với người phải thi hành án là người bị kết án thuộc trường hợp quy định tại điểm c mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33/2009/QH12 của Quốc hội thì được miễn nghĩa vụ thi hành án phí trong bản án hình sự mà người đó phải chấp hành.

Trong trường hợp của bạn, bản án được thực hiện từ tháng 9/2014 và theo nguyên tắc vẫn phải  được tiếp tục thực hiện nên tới thời điểm Luật thi hành án dân sự 2014 có hiệu lực vẫn được tính là bản án chưa thi hành xong, áp dụng những điểm thay đổi mới của luật mới, những điểm không sủa đổi áp dụng quy định của luật năm 2008.

Luật thi hành án 2008 có quy định:

Điều 9. Tự nguyện và cưỡng chế thi hành án

1. Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án.

2. Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp của bạn, sau khi nhận được quyết định bạn đã gửi qua cơ quan thi hành án để được giúp đỡ thu trợ cấp hàng tháng. Việc thi hành án này đã được chồng cũ của bạn thực hiện tự nguyện và liên tục cho tới tháng 2/2015.

Tuy nhiên, do bạn đưa con ra Bắc sống nên chồng cũ đã lấy lý do và chấm dứt việc tiếp tục thi hành án. Về vấn đề này, cần phải xác định một số nội dung cụ thể như sau:

  • Về việc bạn đưa con ra Bắc sống.

Theo Luật hôn nhân gia đình 2014

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Như vậy, mặc dù thời gian trước đó chồng bạn không một lần hỏi han thăm con nhưng anh ta vẫn có quyền được thăm nom con theo quy định của pháp luật. Việc bạn đưa con ra Bắc sống nếu trực tiếp ảnh hưởng tới quyền này và không vì lý do chính đáng mà tiến hành di chuyển chỗ ở của con cái, không thông báo với chồng cũ để xâm phạm tới quyền thăm của chồng bạn thì chồng bạn hoàn toàn có thể kiện ra Tòa để yêu cầu thỏa thuận lại về vấn đề thăm nom đề đảm bảo không ảnh hưởng tới quyền của anh ta. Tuy nhiên, hành động chấm dứt việc cấp dưỡng vì lý do trên là sai và hoàn toàn không có căn cứ pháp lý.

  • Về việc cơ quan thi hành án tạm ngưng việc thu tiền:

Theo Luật thi hành án 2008

Điều 49. Tạm đình chỉ thi hành án

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị.

Trong thời gian tạm đình chỉ thi hành án do có kháng nghị thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.

2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông báo của Toà án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án.

Thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án.

3. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được một trong các quyết định sau đây:

a) Quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền;

b) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị;

c) Quyết định của Toà án về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

Trường hợp của bạn, chồng bạn kiện ra tòa việc bạn chuyển con ra Bắc làm chia rẽ tình cảm cha con. Đây là một bản án mới và không được coi là kháng nghị, tái thẩm bản án ly hôn cũ nên không thể áp dụng quy định đình chỉ thi hành án ở trên để ngừng việc thu tiền từ chồng bạn. Bạn nên yêu cầu cơ quan thi hành án xuất trình quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền (nếu có). Nếu như họ không thể xuất trình được thì việc đình chỉ thi hành án này là trái với thẩm quyền. Phía cơ quan thi hành án phải có biện pháp tiếp tục thu hoặc tiến hành cưỡng chế để thu khoản tiền cấp dưỡng này cho bạn.

Trong trường hợp của bạn, bạn có thể khiếu nại về thi hành án dân sự để đảm bảo quyền và lợi ích của mình theo như Điều 140 Luật thi hành án 2008:

Điều 140. Quyền khiếu nại về thi hành án

1. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên như sau:

a) Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

b) Đối với quyết định về áp dụng biện pháp phong toả tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định;

Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

c) Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

d) Đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó.

Trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn khiếu nại.

Lần khiếu nại tiếp theo, thời hiệu là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc về vấn đề thi hành án trong lĩnh vực dân sự vui lòng trao đổi trực tiếp với đội ngũ luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ trực tiếp từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê