Đến nay đã quá thời hạn trả nợ vợ chồng A không trả tiền cho tôi, tôi đã làm đơn yêu cầu tòa gải quyết. Phiên tòa đã được tiến hành, lần đầu xét xử vào vợ chồng A  đều có mặt. Sau hôm đó họ có hành vi tẩu tán tài sản, bán hết nhà và đất cho người khác với mức giá thấp hơn giá thị trường rất nhiều. Sau khoảng 3 ngày họ đã bán xong nhà và đất, không rõ đã sang tên cho người khác hay chưa. Như vậy việc sang tên có hợp pháp không ?. Vợ chồng A  đã được Tòa án triệu tập 2 lần nữa nhưng họ đều không đến và lấy ly do rằng mình không có tài sản trả nợ nên không đến. Họ còn nói rằng mình không nhận được giấy triệu tập tại tòa.

Vậy tòa có tiến hành xét xử cho tôi không ?. Hình thức trả nợ cho tôi là gì ?. Hiện tại họ còn xe và một số đồ đạc khác thôi.

Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Xin cảm ơn.

Người gửi : Loan

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

- Luật dân sự năm 2005

- Luật tố tụng dân sự năm 2004

Luật đất đai năm 2013

- Luật nhà ở năm 2014

- Luật thi hành án dân sự năm  2008

- Nghị định 43/2014/NĐ-CP: Hướng dẫn luật đất đai 2013.

- Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC : hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự.

2. Nội dung phân tích: 

Trước hết chúng ta biết hành vi tẩu tán tài sản rất đa dạng và được hiểu dưới nhiều hình thức khác nhau tuy nhiên mục đích chung của hành vi này là người phải thi hành án không muốn dùng tài sản của mình để thi hành án, nói cách khác, với thực tế như hiện nay, phía Người phải thi hành án (ông bà A) đang ở trong tình trạng mà thuật ngữ pháp lý gọi là “không có tài sản để thi hành án”.

+) Thứ nhất : Việc sang tên GCNQSDĐ

Được xác định là  hợp pháp khi thực hiện  đầy đủ thủ tục tố tụng:

Bước 1: Hai bên đến Văn phòng công chứng ký kết hợp đồng chuyển nhượng (hoặc hợp đồng tặng cho) quyền sử dụng đất; hai bên cần thống nhất trong hợp đồng.

Bước 2: Nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhận phiếu hẹn tại Văn phòng

Bước 3: Nộp lệ phí trước bạ và thuế thu nhập cá nhân.

Bước 4: Nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc đăng ký biến động.

Thời gian thực hiện: Không quá 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (trường hợp phải trích đo địa chính thửa đất thời gian giải quyết không quá 30 ngày)

- Nghị định 43/2014/NĐ-CP: Hướng dẫn luật đất đai có quy định như sau:
"Điều 61. Thời gian thực hiện thủ tục hành chính về đất đai.
2. Thời gian thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp đổi, cấp lại GCNQSDĐ quy định như sau:

a) Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là không quá 30 ngày.."

-> Hành vi tẩu tán tài sản chính là việc xác lập các giao dịch các giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ. Nếu chứng minh được là hành vi tẩu tán tài sản thì hành vi đó sẽ bị vô hiệu theo qui định của pháp luậtTuy nhiên, trên thực tế để chứng minh một hành vi có phải là hành vi tẩu tán tài sản hay không là rất khó.

+) Thứ hai: Việc vắng mặt tại tòa.

Căn cứ bộ luật tố tụng dân sự 2004:

"Điều 60. Quyền, nghĩa vụ của bị đơn

2. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án giải quyết vắng mặt bị đơn."

Như vậy việc ông bà A từ chối vắng mặt tại tòa cần có lý do chính đáng và có đơn gửi xét xử vắng mặt. Nếu như triệp tập đến lần thứ hai, ông bà A xác định là trốn tránh cố tình không đến phiên tòa xét xử thì tòa án sẽ tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và gửi bản án cho bị đơn.

+) Thứ ba: Vấn đề liên quan trách nhiệm  trả nợ của ông bà A

-Trường hợp 1: ngoài nhà và đất nêu trên, ông bà A vẫn còn khả năng thi hành án (ví dụ, có tiền, xe oto, xe máy, hoặc tài sản khác có giá trị đủ để thi hành án). Thì việc giao dịch mua bán nhà, đất như trên sẽ không ảnh hưởng đến quyền lợi của bạn và sẽ được diễn ra bình thường.

- Trường hợp 2: Sau khi bán căn nhà và mảnh đất nêu trên, ông bà A rơi vào tình trạng không còn tài sản để thi hành án. Trong trường hợp này:

Căn cứ điều 118 Luật Nhà ở năm 2014 quy định:

"Điều 118. Điều kiện của nhà ở tham gia giao dịch

1. Giao dịch về mua bán, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, góp vốn bằng nhà ở thì nhà ở phải có đủ điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Không thuộc diện đang có tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về quyền sở hữu; đang trong thời hạn sở hữu nhà ở đối với trường hợp sở hữu nhà ở có thời hạn;

c) Không bị kê biên để thi hành án hoặc không bị kê biên để chấp hành quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

d) Không thuộc diện đã có quyết định thu hồi đất, có thông báo giải tỏa, phá dỡ nhà ở của cơ quan có thẩm quyền.

Các điều kiện quy định tại điểm b và điểm c khoản này không áp dụng đối với trường hợp mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai."

Ở đây, giao dịch của ông bà A phải được xác định tính hợp pháp, nếu bạn xác định hợp đồng này có vi phạm bạn hoặc cơ quan thi hành án  có thể yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Căn cứ vào Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 như sau:

1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.

2. Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này.

Các biện pháp đó được quy định tại Điều 66, Điều 69 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 như sau:

Điều 66. Biện pháp bảo đảm thi hành án

1. Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự.

2. Người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.

3. Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:

a) Phong toả tài khoản;

b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;

c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản

Điều 69. Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Trường hợp cần ngăn chặn hoặc phát hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, huỷ hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, Chấp hành viên ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án và gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định, Chấp hành viên thực hiện việc kê biên tài sản hoặc chấm dứt việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.

Và như vậy, giao dịch mua bán nhà đất sẽ bị tạm dừng và tiến hành kê biên tài sản, nhà và mảnh đất của họ sẽ nằm trong số tài sản bị kê biên. Nếu ông bà A không có tiền hay tài sản nào khác để thi hành án thì nhà và đất sẽ được dùng làm tài sản thi hành án. Trong trường hợp không tự nguyện thi hành án, bạn có thể làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành cưỡng chế thi hành án đối với họ.

Nhiều thỏa thuận và giao dịch đáng ngờ

Hiện nay có nhiều giao dịch đáng nghi ngờ về việc thỏa thuận chuyển nhượng nhà, đất để làm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Mặc dù là biết vậy nhưng cơ quan thi hành án không có chứng cứ nào để chứng minh các hợp đồng vay trên là giả tạo.

Thực tế, nhiều đương sự khởi kiện lại không biết nộp đơn yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo cho việc thi hành án. Nếu làm điều này thì quyền lợi của họ sẽ đảm bảo.

Khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/72010 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao “hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự” quy định:

"Điều 6. Kê biên, xử lý tài sản để thi hành án

1. Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án.

Kể từ thời điểm có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố cho người khác, người phải thi hành án không thừa nhận tài sản là của mình thì bị kê biên, xử lý để thi hành án.

2. Thủ tục giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Toà án theo khoản 4 Điều 179 Luật thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản theo quy định của pháp luật, trường hợp có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án chỉ xử lý tài sản khi có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật."

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài luật sư tư vấn 1900.6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê