Nhưng khi giao tiền cho anh ta. Anh ta không làm và không hoàn thành đúng điều đã thống nhất. Và anh ta cũng chưa demo cho tôi đã hơn 1 tháng rồi. Tổng số tiền tôi đã thanh toán là 4 triệu. và tôi yêu cầu anh ta trả lại số tiền đó cho tôi nhưng anh ta không trả. Vậy hỏi rằng tôi có kiện được anh ta ra tòa vì tội chiếm đoạt tài sản không? Hiện tại anh ta làm hay không làm dự án cho tôi tôi không biết. Nhưng tiền anh đã cầm. Tôi có mã giao dịch và thông tin trao đổi với anh ta. Cũng như hội thoại trao đổi công việc.

Vậy xin luật sư cho tôi lời khuyên rằng có nên kiện anh ta không? Hay làm cách nào để tôi lấy lại được số tiền trên. Nếu tôi bị lừa thì chắc nhiều người khách cũng tin anh ta và giao tiền như tôi. và nếu anh ta cũng không trả thì đây là hành vi lừa đảo ?

Tôi xin chân thành cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê. 

>> Luật sư tư vấn khởi kiện hành vi lừa đảo, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11  của Quốc hội

Bộ Luật Hình sự 1999  

Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12  sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội 

2. Nội dung phân tích:

Điều 401 Bộ luật dân sự 2005 quy định về Hình thức của hợp đồng dân sự:

"Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định" 

Hợp đồng giữa chồng bạn với gia đình nhà chị Quỳnh được coi là có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, thỏa thuận giữa bạn và người kia về việc thực hiện dự án có thể được coi là đã hình thành hợp đồng dân sự.

Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản".

Như vậy, theo quy định, thì bạn có thể khởi kiện người kia theo Điều 139 Bộ luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do có hành vi gian dối để chiếm đoạt được 4 triệu cả bạn; hoặc khởi kiện theo Điều 140 cũng theo quy định của Bộ luật hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản do nhận được tài sản của bạn bằng hình thức hợp đồng sau đó gian dối để chiếm đoạt số tài sản đó.

Khi đó, bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan công an nơi thường trú của người kia để đòi lại số tài sản đã mất. Trường hợp do làm ăn qua mạng mà không biết được nơi thường trú của người kia thì bạn có thể làm đơn gửi cơ quan công an nơi bạn cư trú.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn luật dân sự - Công ty luật MInh Khuê