Tôi có người cô sắp ra tòa li hôn vì người chồng không quan tâm chăm sóc lúc ốm đau mà lại còn có người khác.Đến ngày ra tòa hòa giải ông ta dẫn theo người phụ nữ kia và nói trong lúc cô bệnh cô tôi đã lấy hết vàng bạc và yêu cầu cô phải trả lại nhưng việc đó không phải là sự thật .Mẹ tôi vì trong quá trình chăm sóc cô tôi đã thấy được sự tủi khổ của cô nên khi thấy ông ta dẫn theo người đàn bà đó và vu khống cô tôi nên đã tức giận và đã buông lời mắng ông ta và người đàn bà kia và bị ông ta ghi âm lại nếu ông ta đi kiện thì không biết có được chấp nhận không

Người gửi: N.K

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật Dân sự năm 2005. 

Bộ Luật Hình sự năm 1999. 

2. Nội dung phân tích:

Điều 37 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 37. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín  

Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ."

Như vậy, tất cả mọi người đều có quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín.

* Thứ nhất: về hành vi của người chồng:

Trong trường hợp này, nếu cô của bạn chứng minh được những lời ông chồng nói là sai sự thật thì người chồng đó phạm tội vu khống. Điều 122 Bộ Luật Hình sự quy định:

"Điều 122.  Tội vu khống 

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

* Thứ hai: Về hành vi của cô bạn:

Băng ghi âm của ông chồng có chứa lời mắng của cô bạn khi đưa ra Tòa sẽ được cơ quan có thẩm quyền giám định để xét làm chứng cứ có hay không có hành vi phạm tội.

Nếu cô bạn có lời nói  xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự đối với chồng như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ..thì cô bạn mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác được quy định tại điều 121 Bộ luật Hình sự:

"Điều 121.  Tội làm nhục người khác 

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trong trường hợp này, nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác thì việc cô bạn mắng chửi chồng do đã rơi vào tình trạng kích động về tinh thần sẽ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cô bạn, quy định cụ thể tại điều 46 Bộ luật Hình sự.

Còn nếu cô bạn chỉ mắng, không xúc phạm gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới danh dự, nhân phẩm của chồng thì cô bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự bởi hành vi của mình.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê