Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê

>>  Luật sư tư vấn pháp luật trong lĩnh vực dân sự 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến cho Công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2011

2. Nội dung tư vấn: 

Vì trong nội dung câu hỏi bác không đề cập rõ vụ án người nhà bác cần phân xử là vụ án hình sự hay vụ án dân sự nên việc bác muốn tham gia tranh tụng có thể chia làm 2 trường hợp như sau:

-Trường hợp 1: tranh tụng trong vụ án hình sự

Căn cứ vào Điều 35 và Điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về người bào chữa như sau:

"Điều 35. Người bào chữa.
1- Người bào chữa có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo;
c) Bào chữa viên nhân dân.
2- Những người sau đây không được bào chữa:
a) Người đã tiến hành tố tụng trọng vụ án đó hoặc là người thân thích của người này;
b) Người tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch.
3- Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều bị can, bị cáo trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một bị can, bị cáo.

4- Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Toà án hoặc Hội đồng xét xử cấp giấy chứng nhận người bào chữa trong vụ án để họ thực hiện nhiệm vụ bào chữa.

Điều 36. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa.
1- Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp cần phải giữ bí mật điều tra đối với tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.
2- Người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác.
Người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; đưa ra chứng cứ và những yêu cầu; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam; được đọc hồ sơ vụ án và ghi chép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra; có quyền tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên toà; khiếu nại các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, kháng cáo bản án và quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 37 Bộ luật này.
3- Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Người bào chữa không được từ chối bào chữa cho bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận, nếu không có lý do chính đáng.

Người bào chữa không được tiết lộ bí mật mà mình biết được trong khi làm nhiệm vụ"

Như vậy, khi tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người bào chữa, bác cần được cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể ở đây là Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án hoặc Hội đồng xét xử cấp giấy chứng nhận người bào chữa trong vụ án. Khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận người bào chữa, bác cần xuất trình giấy yêu cầu người bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc của người khác. Khi đã trở thành người bào chữa hợp pháp, bác cần tuân thủ các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa tại Điều 36 Bộ luật này.

- Trường hợp 2: tranh tụng trong vụ án dân sự

Căn cứ Điều 63 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 có quy định về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như sau:

"Điều 63. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Toà án chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

2. Những người sau đây được Toà án chấp nhận làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư;

b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;

c) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xoá án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục; không phải là cán bộ, công chức trong các ngành Toà án, Kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an.

3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau. Nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.

Điều 64. Quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1. Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm nếu Toà án xét thấy cần thiết.
2. Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Toà án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
3. Tham gia việc hoà giải, tham gia phiên toà hoặc có văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
4. Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
5. Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
6. Các quyền, nghĩa vụ quy định tại các điểm m, q và r khoản 2 Điều 58 của Bộ luật này.”

Như vậy, trong vụ án dân sự, không có quy định cấm một số trường hợp không được phép trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như trong vụ án hình sự. Chỉ cần đáp ứng đủ điều kiện tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 63 của Bộ luật này, bác đã có thể trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích cho người nhà của bác, đồng thời, khi đã là người bảo vệ hợp pháp, bác cần tuân theo các quy định về quyền và nghĩa vụ tại Điều 64 Bộ luật này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về doanh nghiệp và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi vào giờ hành chính ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ