Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 (Bộ luật dân sự năm 2015)

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

2. Nội dung phân tích:

Mong luật sư trả lời giúp tôi.Tôi có quen 2 chị tên N và N,từ năm 2014 2 chị cho tôi vay tiền 2 tháng đầu là có giấy tay kí nhận lãi 8% tôi phải góp trong 30 ngày,sao 2 tháng ko làm giấy tờ gì nữa vẫn cho tôi vay chỉ kêu mỗi ngày góp nhắn tin Zalo để lưu,nhưng hầu như hok đúng 1 tháng tôi chỉ góp hơn 20 ngày xong vay mới lại rồi trừ khoảng mấy ngày sao chưa góp,giờ 2 chị ko cho tôi vay nữa kêu Đống hết tháng này dứt tôi chấp nhận nhưng tôi có xin 2 chị là cho tôi đống từ từ lại nhưng 2 chị không cho đòi qua nhà tôi quậy. Vậy mong luật sư cho tôi bít trong tình thế này tôi sai hay 2 chị sai và tôi có Được phép tra chậm lại hok vì giờ tôi ko vây nữa Cám ơn luật sư Ngày 23/6/2016

Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Như vậy, việc trả nợ sẽ tuân theo sự thỏa thuận giữa các bên, việc xác định ai đúng ai sai bạn phải căn cứ vào hợp đồng, tin nhắn zalo.

chao luật sư,cho tôi hỏi một chút ,tôi có cho một ng bạn vay tiền khi vay tôi có đánh máy một tờ giấy trong giấy gi hơi sơ xài ben vay gi họ tên số dt và số tiền vay ,ngày vay và ngày zả k gi số cmt .xong rùi ký tên và tôi có lấy zấu vân tay .khi đến ngày trả tiền nhưng bên vay k chịu trả mà cứ khất ,tui có gọi dt cho và gi đc một đoạn gi âm và vài tin nhắn liệu như thế đã đủ cơ sở để kiện đc chưa ạ..xin ls tư vấn giúp ,xim cám ơn!

Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định như sau:

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Và Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định như sau:

"Điều 402. Nội dung của hợp đồng dân sự

Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:

1. Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm;

2. Số lượng, chất lượng;

3. Giá, phương thức thanh toán;

4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

5. Quyền, nghĩa vụ của các bên;

6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

7. Phạt vi phạm hợp đồng;

8. Các nội dung khác."

Theo đó, hợp đồng vay tài sản giữa bạn với người vay vẫn được pháp luật công nhận. Nếu bạn có nhu cầu khởi kiện thì cơ quan nhà nước vẫn sẽ xem xét và giải quyết.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có vay tiền của người ben ngoài, với lãi suất là 5%/tháng, trước đây tôi có đóng lãi đều đặn hàng tháng, nhưng sau này do bị bệnh nên đóng lãi gián đoạn. Người cho vay mới vào cơ quan kiện tôi và ông Giám đốc cơ quan có đề nghị tôi viết giấy nhận nợ, viết giấy đóng lãi 5%/tháng. Như vậy có đúng không ? Xin Luật sư tư vấn dùm. Xin Cảm ơn.

Theo những quy định trên thì hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên và Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

"Điều 4. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận

Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.

Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng."

Do đó nếu bạn có sự thỏa thuận viết giấy nhận nợ và lãi suất thì cơ quan nhà nước vẫn công nhận.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có một người bạn có anh trai đi nước ngoài gủi tiền về cho em gái đứng tên ở sổ tiết kiệm, sau một năm em gái có hỏi vay tiền ở sổ anh trai bảo cho vay môt nửa số tiền tiết kiệm nhưng vì bí quá nên em gái vay hết và hứa sau 4 tháng sẽ giả nhưng chưa được 4 tháng mới 3 tháng thôi anh trai đã đòi, em gái chỉ giả được một nửa còn một nửa chưa giả được thế nhưng anh trai bảo làm đơn kiện em gái vay tiền không hỏi ý kiến tự tiện rút sổ vay. cho hỏi trong trường hợp đó anh trai có kiện được không? và tòa sẽ sử lý người vay như thế nào?

Nếu người anh trai có căn cứ chứng minh người em gái tự ý rút tiền của anh ta thì anh ta hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước bảo đảm quyền lợi cho mình, cụ thể Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

"Điều 169. Bảo vệ quyền sở hữu

1. Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ.

2. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình.

Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật.

3. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, pháp nhân hoặc của chủ thể khác theo quy định của pháp luật."

Và Điều 6 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 6. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

1. Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định."

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn Luật Dân sự - Công ty Luật Minh Khuê.