Vợ tôi tên là: Đặng Thị Thảo, đã tốt nghiệp Trường Cao đẳng Y Thanh Hóa. Sau khi tốt nghiệp vợ chồng tôi có nhờ ông Lê Thanh Bình. Hộ khẩu thường trú: Phường Trường Thi, TP Thanh Hóa xin việc giúp vào bệnh viện. Vợ chồng tôi đã đặt cọc cho ông Binh 3 lần tiền: Lần 1: 20 triệu; Lần 2: 25 triệu; Lần 3: 70 triệu. Ông Bình nhận tiền và ghi cho tôi giấy vay nợ với số tiền các lần nhận như trên, tổng cộng 115 triệu. Hẹn trong vòng 6 tháng sẽ thanh toàn lại tiền nếu không xin được việc. ( Giấy vay nợ là giấy viết tay có chữ kí của ông Bình). Thời điểm nhận tiền xin việc là tháng 1/2014. Nhưng đến nay không xin được việc, vợ chồng tôi có đòi lại tiền đặt cọc nhưng ông Bình không trả. Vợ chồng tôi điện thoại thì không cầm máy, đến nhà gặp thì dặn người giúp việc nói là không có ở nhà. Tôi muốn nhờ pháp luật can thiệp để lấy lại tiền đặt cọc liệu có được không? Và nếu được thì tôi cần làm những thủ tục gì?

Rất mong Công ty Luật Minh Khuê quan tâm và hồi âm sớm giúp tôi. 

Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Người gửi : L.B.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến qua tổng đài: 1900 6162

 

Trả lời :

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005.

Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi 2009.

Bộ luật tố tụng dân sự 2004.

2. Nội dung phân tích:

Điều 128 BLDS 2005 quy định như sau:

Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Giao dịch giữa vợ chồng bạn và ông BÌnh có mục đích là dùng tiền bạc bằng cách nào đó không mang ý nghĩa trong sáng để đưa vợ bạn vào làm việc tại Bệnh viện dễ dàng hơn những người khác, vì thế xét về khía cạnh chuẩn mực đạo đức xã hội pháp luật không bảo về những giao dịch như vậy. Và cũng theo Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005 như trên đã trích thì đó là giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận khôi phục lại tình trạng ban đầu. Trong trường hợp của bạn, vì bên kia trốn tránh nên có thể thấy ông Bình không có thiện chí, bạn có thể dùng giấy vay nwoj mà ông Bình đã viết và ký, các cuộc điện thoại,  đoạn ghi âm làm chứng cứ để khởi kiện vụ án dân sự đòi lại tài sản, theo Điều 6 và Điều 7 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004:

Điều 6. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
1. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
2. Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.
Điều 7. Trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Toà án chứng cứ trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ.

* Thủ tục khởi kiện vụ án dân sự:

Hồ sơ bao gồm:

-Đơn khỏi kiện vụ án dân sự.

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện

- Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Hồ sơ được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến tòa án có thẩm quyền.

Về Trách nhiệm hình sự của ông Bình:

Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.
 Do đó, hành vi của ông Bình là dùng uy tín cá nhân để đảm bảo việc xin việc cho vợ bạn, nhận tiền của vợ chồng bạn và không thực hiện thỏa thuận, bây giờ có dấu hiệu không trả số tiền (chiếm đoạt số tiền đó). Giá trị tài sản thỏa mãn Điều 140 (115 triệu đồng). Do đó, hành vi của ông Bình có dấu hiệu cấu thành tội  lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
* Thủ tục tố cáo hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đến cơ quan công an, viện kiểm sát:

Hồ sơ bao gồm:
Đơn tố cáo và đề nghị khởi tố gửi đến Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân
- Bằng chứng, chứng cứ kèm theo (nếu có)

Như vậy, trường hợp bạn có đầy đủ chứng cứ bạn có thể làm đơn khởi kiện hoặc tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền (Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan công an, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi ông Bình cư trú) về hành vi của anh bạn.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ emaill:   Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900 6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê