Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn chia tài sản thừa kế theo luật, gọi:   1900.6162  

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới bộ phận tư vấn pháp luật dân sự của công ty chúng tôi. Về vấn đề của  bạn hỏi xin trao đổi, giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật dân sự năm 2015

2. Nội dung phân tích:

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 và hướng dẫn như sau: "Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

+ Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ."

Như vậy, việc phân chia di sản trước hết sẽ do những người thừa kế bàn bạc và quyết định do các cá nhân đều có quyền bình đẳng trong việc hưởng thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật (điều 632 BLDS). Trong trường hợp không tự bàn bạc và quyết định được, cá nhân có quyền thừa kế có thể khởi kiện để yêu cầu Tòa án chia thừa kế. Ðiều 645 Bộ luật Dân sự quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”. Như vậy, sau thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết), người thừa kế không còn quyền khởi kiện thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác; và sau thời hạn là 3 năm, cá nhân, tổ chức không còn quyền khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại.

Căn cứ theo những thông tin mà bạn đã cung cấp thì cho tới nay, thời điểm khởi kiện về thừa kế của các thành viên được quyền thừa kế vẫn chưa hết đối với di sản của mẹ bạn để lại (từ 2006 đến 2015 là 9 năm) nhưng đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản của bố bạn (từ 1994 đến 2015 là 21 năm). Như vậy thì bạn và những người đồng thừa kế có quyền khởi kiện chia thừa kế di sản của mẹ bạn còn di sản của bố bạn sẽ trở thành tài sản chung của bạn và các đồng sở hữu khác.

Do cả bố mẹ bạn đều đã mất mà không để lại di chúc nên di sản mà bố mẹ bạn để lại sẽ được chia theo pháp luật. Di sản theo quy định tại điều 634 BLDS nghĩa là bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Như vậy, để chính xác hơn, bạn nên xác định rõ đâu là tài sản của bố bạn, đâu là tài sản của mẹ bạn.

Thành phần hồ sơ khởi kiện:

+ Đơn khởi kiện (theo mẫu)

+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: Giấy khai sinh, Chứng minh thư nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế;

+ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

+ Bản kê khai các di sản;

+ Các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;

+ Các giấy tờ khác: Biên bản giải quyết trong hộ tộc, biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn ( nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản ( Nếu có).

Sau khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xem xét những tài liệu, chứng cứ cần thiết, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án sẽ thông báo cho đương sự biết để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, đương sự phải nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp tiền tạm ứng án phí, đương sự nộp lại biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án. Tòa án thụ lý việc dân sự hoặc vụ án dân sự kể từ khi nhận được biên lai này.

Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực dân sự vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê