Vì khi tham gia em sẽ được nhận được 1sản phẩm. Và 1 hóa đơn đỏ về việc công ty đã thu tiền. Nhưng em chưa cầm sản phẩm đó và công ty bảo sang tuần lấy. Trong khi hóa đơn đỏ xác nhận đã nhận tiền của công ty em cũng k nhận em cũng k đc cầm. Và hợp đông làm cộng tác viên của công ty em hoàn toàn chưa kí với công ty đó. Ngay sau đó khi về nhà. Em có hỏi mấy nhân viên ở đó về việc muốn nhận lại khoản tiền trên. Nhưng không nhận đc sự giúp đỡ gì cả. Em muốn hỏi công ty là giờ em có thể lấy lại được khoản tiền trên không ạ Và nếu có em phải làm sao?

Người gửi: T.B.B

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi:  1900 6162  

 

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005;

Nghị định 42/2014/ NĐ -CP quy định về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp.

2. Nội dung tư vấn:

Căn cứ vài điều 388 Bộ luật dân sự 2005 về hợp đồng dân sự:" hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự".

Từ quy định này có thể thấy, hợp đồng là sự thể hiện ý chí tự nguyện của các bên khi tham gia xác lập quan hệ hợp đồng, ở đó các bên có sự thỏa thuận về giá cả, hình thức, phương thức thanh toán cũng như việc đơn phương chấm dứt hợp đồng. Bạn có nêu là bạn tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp dưới hình thức mua một sản phẩm. Ở đây, khi bạn ký hợp đồng mua sản phẩm là bạn đang tham gia một quan hệ pháp luật dân sự hay nói cách khác bạn đang thực hiện một công việc mua bán, và hợp đồng này là hợp đồng mẫu nên nó sẽ có điều khoản là các bên tự nguyện tham gia xác lập hợp đồng. Do đó về mặt hình thức, hợp đồng của bạn là hợp đồng mua bán chứ không phải hợp đồng tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp. 

Trong trường hợp này, bạn muốn đòi lại số tiền là 8.450.000 đồng bạn sẽ phải có những bằng chứng để chứng minh là bạn bị cưỡng ép hoặc lừa dối là mua sản phẩm thì mới được tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp để có cơ sở yêu cầu tòa án tuyên giao dịch dân sự vô hiệu. Một hợp đồng bị xem là vô hiệu khi nó không tuân theo các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được quy định tại điều 122 Bộ luật dân sự 2005 là:

"Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định."

Căn cứ Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005:

"Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình."

Khi bạn chứng minh được hợp đồng vi phạm một trong các yếu tố như hợp đồng của bạn có nội dung trái với quy định của pháp luật hay khi giao kết hợp đồng bạn bị lừa dối, cưỡng ép, đe dọa thì sẽ có căn cứ yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng này vô hiệu. Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu là các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận, bạn có nghĩa vụ trả lại hàng hóa, còn bên kia có nghĩa vụ trả lại tiền cho bạn. 
Lừa dối ở đây là có thể hiểu là bạn bị lừa dối rằng phải mua hàng thì mới được tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp cũng nhưng thực tế thì không bắt buộc phải mua mà cũng có thể tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp được.
Hợp đồng trên của bạn có căn cứ cho là nó vi phạm điều cấm của pháp luật vì theo quy định của nghị định 42/2014/ NĐ - CP tại điều 5 quy định về các hành vi bị cấm trong hoạt động kinh doanh bán hàng đa cấp :

"Điều 5. Những hành vi bị cấm trong hoạt động bán hàng đa cấp

1. Cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải đặt cọc hoặc đóng một khoản tiền nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

b) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

c) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải trả thêm một khoản tiền dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền duy trì, phát triển hoặc mở rộng mạng lưới bán hàng đa cấp của mình;

d) Hạn chế một cách bất hợp lý quyền phát triển mạng lưới của người tham gia bán hàng đa cấp dưới bất kỳ hình thức nào;

đ) Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

e) Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng;

g) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải tuyển dụng mới hoặc gia hạn hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với một số lượng nhất định người tham gia bán hàng đa cấp để được quyền hưởng hoa hồng, tiền thưởng hoặc các lợi ích kinh tế khác;

h) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về một trong các nội dung quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí dưới bất kỳ hình thức nào, trừ chi phí hợp lý để mua tài liệu đào tạo;

i) Ép buộc người tham gia bán hàng đa cấp phải tham gia các hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này;

k) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí cao hơn mức chi phí hợp lý để thực hiện hoạt động đó;

l) Thu phí cấp, đổi thẻ thành viên theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 21 Nghị định này dưới bất kỳ hình thức nào;

m) Không cam kết cho người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

n) Cản trở người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

o) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, về tính chất, công dụng của hàng hóa, về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

p) Duy trì nhiều hơn một vị trí kinh doanh đa cấp, hợp đồng bán hàng đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp;

q) Kinh doanh theo mô hình kim tự tháp;

r) Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác trừ trường hợp mua lại, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp;

s) Yêu cầu, xúi giục người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện hành vi bị cấm được quy định tại Khoản 2 Điều này.

2. Cấm người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải trả một khoản tiền nhất định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng hóa nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

b) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, tính chất, công dụng của hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

c) Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, đào tạo mà không được doanh nghiệp bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản;

d) Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của doanh nghiệp khác tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp mà mình đang tham gia;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp".

Từ quy định này có thể nhận thấy, phía bên công ty và người tham gia bán hàng đa cấp đã vi phạm điều cấm của pháp luật khi yêu cầu bạn phải mua một lượng hàng hóa nhất định rồi mới được tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp theo điểm a khoản 2 điều 5 của nghị định 42/2014/NĐ - CP.

Từ các phân tích trên có thể nhận thấy bạn hoàn toàn có căn cứ để yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng trên vô hiệu. Bạn có thể làm đơn và gửi lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đó đóng trụ sở chính để yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu kèm theo các chứng cứ và các căn cứ pháp lý nêu trên để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ pháp lý. 

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật MInh Khuê