Đồng nghiệp cùng phòng với tôi đã mang một câu chuyện không có thật về tôi nói với trưởng phòng tôi cùng 3 đồng nghiệp của tôi trên 1 chuyến xe đi công tác rằng khi còn làm việc ở cơ quan cũ tôi có cặp kè với 1 anh đã có gđ, thuê nhà cùng anh này ra ở riêng và bị vợ anh ấy đến cơ quan làm ầm ĩ chuyện lên. Khi tôi yêu cầu cần có 1 cuộc họp làm rõ chuyện này cùng cô ấy và 2 trong số 4 người hỏi thì cô ấy thừa nhận cô ấy có nói về tôi như vậy. Tôi hỏi câu chuyện đó cô ta lấy ở đâu ra thì cô ấy nói rằng từ 1 đồng nghiệp cũ của tôi, tôi yêu cầu cung cấp thông tin người đó thì cô ta có đưa ra 1 người, tôi đã gọi điện cho người này để xác minh nhưng cô ta khẳng định cô ta không nói như vậy. Cả cuộc gọi xác minh thông tin này và cuộc họp xác nhận việc đưa tin đã được tôi ghi âm lại. Tôi có thể lấy xác nhận từ cơ quan cũ trong suốt quá trình tôi công tác không có chuyện tôi bị người nào đến cơ quan đánh ghen, làm ầm ĩ chuyện, công đoàn cty có thể cử người ra tòa làm chứng.

Xin hỏi : Vậy tôi có quyền và có đủ căn cứ để kiện cô đồng nghiệp mới của tôi ra tòa không? Tôi mong được công ty luật Minh Khuê tư vấn sớm để tôi có thể quyết định khởi kiện để lấy lại danh dự và uy tín, tinh thần thoải mái cho công việc và cuộc sống hàng ngày cho bản thân.

Tôi xin chân thành cảm ơn! 

Người gửi: Đ. Q

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự qua điện thoại gọi: 1900 6162

Làm thế nào để bảo vệ danh dự nhân phẩm ?

( Luật sư tư vấn pháp luật dân sự miễn phí - Hình ảnh minh họa )
 

Trả lời:

 Điều 81, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 ( sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định về chứng cứ như sau:

"Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự".

Căn cứ quy định tại Điều 82, Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2011), băng ghi âm là tài liệu nghe được và được coi là một nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 83 về xác định chứng cứ, băng ghi âm được coi là một chứng cứ khi thỏa mãn điều kiện sau đây: Các tài liệu nghe được, nhìn được, được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

Khoản 2 Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 đã có quy định cụ thể về điều kiện để xác định nguồn chứng cứ của vụ án được quy định như sau: “Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của các tài liệu đó hoặc văn bản về sự liên quan tới việc thu âm, thu hình đó”.

Như vậy băng ghi âm của họp giữa bạn cùng cô đồng nghiệp và 2 đồng nghiệp khác của bạn có kèm cả văn bản xác nhận xuất xứ của băng ghi âm đó; cộng thêm băng ghi âm của bạn với người đồng nghiệp cũ của bạn cũng có kèm văn bản xác nhận xuất xứ của băng ghi âm này. Đồng thời các cá nhân thừa nhận giọng nói trong băng ghi âm là của họ hoặc có kết luận của cơ quan giám định xác nhận giọng nói trong đoạn băng ghi âm là của họ.Trường hợp này đủ các điều kiện trên thì bạn có thể dùng băng ghi âm đó để lấy lại danh dự nhân phẩm cho mình trước tòa.

Trường hợp không đáp ứng được các điều kiện đó, đoạn băng ghi âm của bạn chỉ được xem là tài liệu liên quan đến vụ án, có giá trị tham khảo chứ không thể có giá trị chứng minh trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án.

Về vấn đề bạn có thể lấy xác nhận từ cơ quan cũ trong suốt quá trình bạn công tác không bị người nào đến cơ quan đánh ghen, làm ầm ĩ chuyện, công đoàn công ty có thể cử người ra tòa làm chứng thì đây là những nhân chứng giúp bạn chứng minh sự thật để bảo vệ danh dự nhân phẩm trước tòa. 

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Hy vọng đã giúp bạn giải quyết vấn đề và nhận được nhiều câu hỏi của bạn trong thời gian tới!

Trân trọng./

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ