1. Luật sư tư vấn bồi thường khi gây tai nạn giao thông ?

Xin chào luật sư, Em muốn xin chút tư vấn về vấn đề như sau: Bố tôi và người bị va chạm đi ngược chiều. Bố tôi chở mẹ tôi vượt 3 xe đạp đi phía trước thì lấn sang làn đường và va chạm với người đi ngược chiều. Khi vụ va chạm xảy ra, mẹ tôi không bị sao, nhà tôi đã gọi xe cứu thương đưa bố tôi và người bị xô xe vào bệnh viện. Sau khi khám và chụp X-quang tại viện thì bố tôi bị gãy khuỷu tay trái và rạn xương gò má phải, khâu 5 mũi ở mí mắt phải và 5 mũi ở môi trên bên phải. 

Người bị xô xe bị tháo 1 ngón chân thứ tư của bàn chân phải. Khi tai nạn xảy ra công an có mặt lập biên bản hiện trường và giữ 2 xe máy trong vụ tai nạn. Người bị va chạm xe nằm viện 2 ngày rồi xin xuất viện. Bố tôi nằm viện đã 1 tuần nhưng chưa khỏi và vẫn đang được điều trị tại viện. Phía gia đình tôi cũng gặp người bị va chạm xe xin lỗi và thỏa thuận bồi thường nhưng phía người bị xô xe đòi tiền bồi thường 50 triệu. Gia đình tôi không đồng ý và quyết định để công an giải quyết. Xin luật sư cho biết nếu để công an giải quyết thì  tiền phạt hành chính & bồi thường sẽ tính như thế nào?

 Mong nhận được thư tư vấn của luật sư sớm 

Cảm ơn quý luật sư đã đọc câu hỏi!

Người gửi: N.T

Luật sư tư vấn bồi thường khi gây tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi, câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Bố của bạn điều khiển xe máy lấn làn đường gây tai nạn cho xe đi ngược chiều, hành vi này vi phạm luật giao thông đường bộ được quy định tại điều 13 Luật giao thông đường bộ năm 2008. Với hành vi này bị phạt từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng theo quy định tại khoản 1 điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bộ Luật hình sự sửa đổi và bổ sung năm 2009) và Luật giao thông đường bộ 2008.

Về vấn đề bồi thường thiệt hại: Vì mức độ tổn hại về sức khỏe của người bị xô xe không quá nguy hiểm thì hai gia đình nên thỏa thuận lại với nhau cho hợp lý và hợp tình. Gia đình bạn cũng nên thể hiện quan điểm rằng: Nếu bên đòi bồi thường vẫn không chịu hợp tác thỏa thuận thì bạn sẽ nhờ cơ quan công an giải quyết, khi công an vào cuộc thì hai gia đình sẽ gặp vô vàn những điều phiền toái không mong muốn. Trong trường hợp hai gia đình thống nhất bồi thường thì  việc thỏa thuận của hai gia đình phải được ghi lại bằng văn bản, có chữ ký của hai bên và nộp lại cho cơ quan Công an.

>> Xem thêm:  Lái xe uống rượu say, điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông xử lý như thế nào ?

2. Đền bù ngoài hợp đồng đối với tai nạn giao thông ?

Thưa Luật sư, tôi 31 tuổi điều khiển xe mấy 50cm3 đi mua vật dụng. Khi đến tiệm thì xin qua đường (đường 2 chiều), thì bị 1 xe máy trên 50cm3 tông vào (người điều khiển xe máy dưới 18 tuổi và đã có uống rượu đến nôn mửa khi lên bệnh viện và trong biên bản có ghi). 

Khi đó vụ tai nạn xảy ra bên trái đường của tôi. Sau vụ tai nạn tôi bi tụ huyết não, trầy rách mặt và bị thương nhiều chỗ khác. Người do cũng bị tụ huyết não, dây thần kinh làm một con mắt không thấy được. Vậy trong vụ tai nạn ai là người sai? Và tôi phải đền bù cho người đó như thế nào?

Xin cảm ơn !

Người hỏi: N.T.D

Đền bù ngoài hợp đồng đối với tai nạn giao thông ?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Điều 617 Bộ luật Dân sự quy định: "Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi. Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.".

Trường hợp này của anh, như anh đã trình bày lỗi có thể là do người kia nhưng còn phụ thuộc vào cơ quan điều tra. Trước hết căn cứ Luật giao thông đường bộ 2008. Điều 60 Luật giao thông đường bộ 2008 quy định về tuổi, sức khỏe của người lái xe như sau:

"1. Độ tuổi của người lái xe quy định như sau:

a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3;

b) Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi "

Điều 8 Luật này cũng quy định về các hành vi bị cấm như sau: "8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn. Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở."

Như vậy người kia đã vi phạm pháp luật về độ tuổi được lái xe và lái xe trong tình trạng có nồng độ cồn do uống rượu bia. Vậy cơ quan điều tra sẽ xác nhận mức độ lỗi người đó chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan tố tụng sẽ dựa vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để đưa ra quyết định về hình phạt. Người có lỗi sẽ phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại điều 609 bộ luật dân sự 2005. Cụ thể hơn, tại  Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

-  Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

-  Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm: Tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường

Thứ ba: Mối quan hệ giữa hậu quả và hành vi phạm tội. Gữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra phải tồn tại mối quan hệ nhân quả. Hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ phải xảy ra trước hậu quả và là nguyên nhân trực tiếp khiến phát sinh hậu quả. Đối chiếu với thông tin bạn đưa ra cho thấy: Người vi phạm điều khiển phương tiện giao thông là nạn nhân chứ không phải bạn. Nạn nhân đã sử dụng rượu trước khi tham gia giao thông đồng thời trong quá trình lưu thông, người này còn lấn chiếm làn đường làm xảy ra va chạm với xe của anh. Đây là hành vi vi phạm điều cấm quy định tại Điều 8 Luật giao thông đường bộ 2008. Nếu anh có chứng cứ chứng minh anh không có lỗi khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà lỗi xuất phát từ phía nạn nhân thì anh hoàn toàn không phải bồi thường thiệt hại cũng như không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại điều 202 Bộ luật hình sự.
 
>> Xem thêm:  Gây tai nạn giao thông làm tổn hại đến sức khỏe của người khác thì bị xử lý thế nào ?

3. Tư vấn xử lý gây tai nạn giao thông đường bộ ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Tôi có đứa em làm nghề giao bánh mì, sáng 5h ngày 4-1-2015mtrong lúc đi giao bánh có vô tình va chạm vào một người đi bộ. Em tôi cùng mọi người quanh đó có chở người bị nạn đi bệnh viện, sau khi chụp chiếu, city não thì bác sĩ nói không việc gì, chỉ phải khâu 3 mũi ở đầu. 

Tôi cùng em tôi đã nói với gia đình người bị nạn nhưng họ nhất quyết đòi bồi thường 10 triệu. Đây là 1 số tiền quá lớn so với lương của em tôi 3tr5/1 tháng. Mặc dù chúng tôi đã nhận lỗi và sẽ thanh toán mọi chi phí khám xét ở viện của người bị nạn nhưng họ nhất quyết đòi 10 triệu. Gia đình tôi khó khăn nên chỉ đồng ý bồi thường 2 triệu cùng mọi chi phí khám chữa và bồi dưỡng. Nếu như bên bị nạn không đồng ý thì em tôi sẽ nhờ tới pháp luật, vậy cho tôi hỏi trong trường hợp này thì theo luật em tôi sẽ phải bị xử phạt như thế nào ? Em tôi là người trên 18 tuổi có thể tham gia giao thông nhưng chưa có bằng lái, tạm thời bên phía người bị nạn đã giữ phương tiện đưa bánh cùng chứng minh thư của em tôi.

Tôi xin trân thành cám ơn!

Người gửi: V.C

Thứ nhất, bạn cần hiểu rằng, trong trường hợp này em  bạn vừa vi phạm về pháp luật hình sự vừa vi phạm về pháp luật dân sự. Cụ thể, về dân sự thì em bạn đã  vi phạm về các quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, gây thiệt hại thì phải bổi thường, việc bồi thường ở đây sẽ là bồi thường bằng tiền. Về hình sự, thì rất có thể em bạn đã vi phạm về “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”(Điều 202 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009)  nếu như khi công an điều tra em bạn có những dấu hiệu thể hiện tội này.

Thứ hai, việc gia đình bạn thực hiện bồi thường thiệt hại cho nạn nhân sẽ được xác định mức bồi thường căn cứ Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP  hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, mục II: Xác định thiệt hại:

“1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

a) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:

- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người bị xâm phạm sức khỏe nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khỏe bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS.

b) Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được thực hiện như sau:

Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không. Nếu có thì tổng hợp số thu nhập là bao nhiêu.

Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 này. Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.

Ví dụ 1: A làm nghề sửa xe máy tự do. Thu nhập thực tế của A trước khi sức khỏe bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là một triệu đồng. Do sức khỏe bị xâm phạm, A phải điều trị nên không có khoản thu nhập nào. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của A bị mất.

Ví dụ 2: B làm công cho một công ty trách nhiệm hữu hạn. Thu nhập thực tế của B trước khi sức khỏe bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 600 ngàn đồng. Do sức khỏe bị xâm phạm, B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50% tiền lương là 300 ngàn đồng. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của B mỗi tháng bị giảm sút 300 ngàn đồng.

Ví dụ 3: C là công chức có thu nhập hàng tháng ổn định 500 ngàn đồng. Do sức khỏe bị xâm phạm, C phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đủ các khoản thu nhập cho C. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của C không bị mất.

1.3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.

b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.

- Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.

1.4. Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

a) Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.

b) Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.

1.5. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.

a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.

b) Trong mọi trường hợp, khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…

c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường”.

 Dựa vào quy định này, bạn có thể xác định mức bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân.

Ngoài ra, căn cứ điều 202 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Việc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe cũng sẽ phải căn cứ vào Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC  Hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, để xác định:

“Điều 2. Một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt

1. Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”.

Theo đó, để xử lý về tội này trước tiên cơ quan điều tra phải điều tra hiện trường để xác định lỗi của người lái xe (là em bạn). Trường hợp này  cần phải làm rõ em của bạn có chấp hành đúng quy định của Luật giao thông đường bộ hay không, nạn nhân có chấp hành đúng quy định về an toàn giao thông hay không. Nếu em bạn là người có lỗi trong tai nạn này thì em của bạn mới bị xử lý về tội “vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ”. Còn nếu qua điều tra hiện trường, công an xác định người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong vụ việc dẫn đến gây tai nạn cho chính mình thì hành vi của em bạn không cấu thành tội vi phạm quy định về an toàn giao thông.

>> Xem thêm:  Gây ra tai nạn giao thông do lỗi hỗn hợp có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?

4. Gây ra tai nạn giao thông, người bị hại bị mất iPhone thì mức xử phạt ra sao ?

​Chào luật sư. Em tham gia giao thông có sử dụng nông độ cồn, em có tông người ta và bỏ chạy,em và xe máy không bị sao, người bị hai và xe cung không bị sao nhưng khi công an giao thông và công an phường vao xử lý thì người ta nói là mất 1 cái iPhone 6 Plus.......trong tình huống này em bi xử phạt sao ?
Mong luật sư giải đáp giúp em. Em xin cảm ơn.

Gây ra tai nạn giao thông, người bị hại bị mất iPhone thì mức xử phạt ra sao ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

Căn cứ Điều 202 Bộ Luật Hình sự 1999  quy định về tội điều khiển xe gây tai nạn giao thông như sau:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.[...]"

Như vậy, đối chiếu với quy định nêu trên, bạn vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn nhưng không gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác nên sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 202. Tuy nhiên, bạn gây tai nạn lại bỏ chạy, không trình báo cơ quan có thẩm quyền nên căn cứ Điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt , bạn sẽ bị xử phạt từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng:

"Điều 6. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy;

b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ;

c) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông;

d) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;[...]"

Còn về việc phía bên người bị hại khai báo là bị mất 1 cái iPhone 6 Plus thì chưa thể khẳng định là bạn người người lấy trộm chiếc điện thoại này được. Cơ quan công an sẽ tiến hành điều tra, nếu bạn không lấy trộm chiếc Iphone thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông ?

5. Tư vấn xử lý giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư, Dạ con xin chào luật sư ạ. Cho con hỏi luật sư về 1 vấn đề như sau ạ: Chuyện là con và anh con đang chạy xe qua vòng xoay thì bất ngờ có 1 chiếc xe máy từ bên hông xe con chạy đến và đâm vào bánh xe sau của con và anh con. 

Hai cậu cháu người đó bị té và người cháu bị gãy xương bánh chè ở chân. Lúc đó khi qua đường thì con và anh con đều bật đèn xi nhan xin qua đường. Vậy mà khi ông ta tự đâm vào rồi té lại đổ lỗi cho anh con là chạy xe ẩu nhưng nói chuyện 1 lúc ông ta nói không muốn làm lớn chuyện nên tự ý dẫn xe vào lề mà không kêu giao thông. Ông ta nhờ anh con chở dùm cháu ông ta đi chụp X-quang, khi đó anh con chở dùm. Cứ nghĩ mọi chuyện vậy là xong nhưng ai ngờ khi chụp xong phát hiện gãy xương lại làm khó anh con và con, ông ta còn lấy số chứng minh của anh con nữa. Lúc đó con mới gọi cha mẹ đến và giải quyết. Ông ta cứ khăng khăng nói anh con và con sai. Gia đình con thấy con và anh con không có gì xảy ra nên không muốn làm lớn chuyện, mà gia đình con chịu hoàn toàn tiền thuốc cũng như số tiền bồi thường là 3.000.000 khi đó ông ta nói sẽ không phiền gia đình con nữa, cũng như anh con. Nhưng anh con bắt ông ta viết cam kết và ký vào. Ông ta nói chỉ cần ông ta ký thôi, còn về phần cháu ông ta thì ông ta sẽ tự giải quyết. Biết là đã bồi thường xong, nhưng anh con vẫn còn sợ lắm. Sợ bị gia đình họ làm phiền. Vậy cho con hỏi là có khi nào ông ta và cháu ông ta làm phiền nhà con không? và nếu như xảy ra kiện tụng thì liệu gia đình con có bị gì không? 

Con xin cảm ơn luật sư ạ!

Người gửi: N.N.N

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Trong trường hợp của bạn với những căn cứ mà bạn đưa ra thì chúng tôi chưa thể xác định rõ được lỗi thuộc về bên nào. Bạn có thể tham khảo thêm quy định pháp luật về giao thông đường bộ cụ thể là điều 15 và điều 24 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 để rõ hơn.

"Điều 15. Chuyển hướng xe

1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

3. Trong khu dân cư, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng chỉ được quay đầu xe ở nơi đường giao nhau và nơi có biển báo cho phép quay đầu xe.

4. Không được quay đầu xe ở phần đường dành cho người đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, trong hầm đường bộ, đường cao tốc, tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, đường hẹp, đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất."

"Điều 24. Nhường đường tại nơi đường giao nhau

Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường theo quy định sau đây:

1. Tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi đến từ bên phải;

2. Tại nơi đường giao nhau có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi bên trái;

3. Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới."

Trong trường hợp lỗi thuộc về bên bạn thì bạn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra.

Trong trường hợp bạn không có lỗi thì bạn không phải bồi thường. Tuy nhiên bạn vẫn có thể tự nguyện bồi thường trong trường hợp bạn không có lỗi.

Trong trường hợp của bạn đã xảy ra tai nạn giao thông và đã có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại giữa các bên. Nếu các bên vẫn không thỏa thuận được thì có thể kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, lúc này sẽ cần xác định đến yếu tố lỗi của các bên và hậu quả là thiệt hại xảy ra để tính mức chi phí hợp lý.

>> Tham khảo thêm nội dung bài viết:  Trách nhiệm của người gây tai nạn giao thông dẫn đến chết người thế nào ?

6. Tư vấn tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư, Em có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Em đi xe máy đúng làn đường tốc độ khoảng 40-50km/h va quẹt với 1 người đi bộ băng ngang qua đường và nơi tai nạn không có dãy phân cách và làn đường dành cho người đi bộ. 

Thời điểm xảy ra tai nạn là ~ 11h đêm, không có ng làm chứng hay gì cả
Cho e hỏi vậy theo luật  thì ai đúng ai sai và mức bồi thường ra sao ạ?

Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Tân Nguyễn

Tư vấn tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi những thắc mắc đến chuyên mục, dựa vào những dữ liệu bạn cung cấp, tôi có thể trả lời bạn như sau:

Theo điều 12 luật giao thông đường bộ và điều 7 Quyết định số 05/2007/QĐ-BGTVT ngày 02/02/2007 quy định tốc độ tối đa cho xe gắn máy là 50km/h

Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.

2. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ xe và việc đặt biển báo tốc độ; tổ chức thực hiện đặt biển báo tốc độ trên các tuyến quốc lộ.

3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc đặt biển báo tốc độ trên các tuyến đường do địa phương quản lý.

Điều 7. Tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông trên đường bộ ngoài khu vực đông dân cư được quy định như sau:

Loại xe cơ giới đường bộ

Tốc độ tối đa (km/h)

Ôtô chở người đến 30 chỗ ngồi (trừ ôtô buýt); ôtô tải có trọng tải dưới 3.500 kG.

80

Ôtô chở người trên 30 chỗ ngồi (trừ ôtô buýt); ôtô tải có trọng tải từ 3.500 kG trở lên.

70

Ôtô buýt; ôtô-sơ mi rơ moóc; ôtô chuyên dùng; xe môtô.

60

Ôtô kéo rơ moóc; ôtô kéo xe khác; xe gắn máy.

50

Theo đó thì tốc độ của anh không vi phạm pháp luật giao thông đường bộ, cho dù không có người làm chứng thì bằng phương pháp nghiệp vụ cơ quan điều tra sẽ tìm được các bằng chứng để phân định lỗi trong trường hợp này, Do đó nếu bên nào có lỗi thì phải chịu bồi thường thiệt hại theo phần lỗi của mình.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê