Năm1965 anh tôi-tức T nhập ngũ ở Làng Ái Mỗ, Trung Hưng, Hà Tây. Năm1969 hy sinh ở mặt trận phía Tây Nam (liệt sĩ). Từ đó mẹ tôi được công nhận và hưởng chính sách là mẹ liệt sĩ. Do phường Lê Lợi, Thị xã Sơn Tây, Hà Tây chi trả tiền trợ cấp hàng tháng,tiền thờ cúng liệt sĩ T.Năm 2001 mẹ tôi chết do tuổi cao, gia đình tôi vẫn được hưởng tiền thờ cúng liệt sĩ cho tới nay (2015). Do mẹ tôi và gia đình để lại cho anh tôi là Linh Cẩm Sơn-con ruột của mẹ tôi thờ cúng liệt sĩ. Ngày 24/2/2015 phường Lê Lợi và phường Trung Hưng-Thị xã Sơn Tây lên họp nói giờ là không được hưởng tiền nhang khói liệt sĩ nữa, đã ra quyết định thu hồi tiền thờ cúng liệt sĩ T từ năm 2013 và cho anh A là con ông chú chồng mẹ tôi (tức em họ của liệt sĩ T). Như vậy phường giải quyết chính sách đó có đúng không? Theo chính sách sau khi mẹ liệt sĩ chết thì ai là người được quyền thờ cúng anh mình? 1. Con ruột của mẹ liệt sĩ. 2. Em họ của liệt sĩ. Tiếp theo cho tôi được hỏi việc thu hồi tiền nhang khói của liệt sĩ T từ năm 2013 là có đúng không?  Được biết theo chính sách hiện nay mẹ tôi có chồng và con hy sinh, gia đình có 2 liệt sĩ trở lên thì được nhà nước truy tặng bà mẹ Việt Nam anh hùng. Trường hợp của mẹ tôi có thuộc diện chính sách đó không. Nếu được thì phường nào có trách nhiệm làm thủ tục? Khi được truy tặng thì ai là người được quyền đứng ra nhận? 

Tôi xin chân thành cảm ơn và hậu tạ!

Người gửi:H.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

Mẹ 02 liệt sỹ có được hưởng chính sách của Nhà nước không ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi. Thắc mắc của bạn sẽ được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số Điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng    

Nghị định số 56/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" 

Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BQP-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng 

Nội dung tư vấn:

Về người thờ cúng hợp pháp:

Người thờ cúng liệt sĩ được quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 31/2013/NĐ-CP như sau: "Người thờ cúng liệt sĩ là người con hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ; trường hợp không có hoặc không còn con thì là người được ủy quyền theo quy định của pháp luật."

Theo quy định trên thì người thờ cúng hợp pháp phải là người được ủy quyền được gia đình, họ tộc liệt sĩ thống nhất uỷ quyền bằng biên bản sẽ là người thờ cúng liệt sĩ hợp pháp và được hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ. 

Trường hợp gia đình không thống nhất được người đại diện thì chưa có cơ sở giải quyết chế độ thờ cúng liệt sĩ.

Trong trường hợp này, do có sự không thống nhất cử người thờ cúng cho liệt sĩ nên phường không có căn cứ cho anh Phùng Trọng Vũ hay anh Linh Cẩm Sơn hưởng tiền thờ cúng. Do nghị định 31/2013/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/6/2013 có quy định về người thờ cúng như trên nên từ thời điểm này, việc trả tiền thờ cúng cho người không phải là người thờ cúng là không có căn cứ và phường có thể truy thu tiền thờ cúng của anh Linh Cẩm Sơn. Tuy nhiên, việc giao quyền thờ cúng cho anh Phùng Trọng Vũ cũng không đúng quy định của pháp luật do anh này chưa được gia đình thống nhất ủy quyền.

Về truy tặng danh hiệu:

Đối tượng được truy tặng danh hiệu này được quy định tại Điều 2 Nghi định 56/2013/NĐ-CP như sau:

"Điều 2. Đối tượng được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”

1. Những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”:

a) Có 2 con trở lên là liệt sỹ;

b) Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sỹ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

c) Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sỹ;

d) Có 1 con là liệt sỹ và có chồng hoặc bản thân là liệt sỹ;

đ) Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên.

Người con là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”, bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật.

Người chồng là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” mà bà mẹ là vợ của người đó.

Thương binh quy định tại Điểm b, Điểm đ Khoản 1 Điều này là người đã được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận thương binh, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, bao gồm cả người còn sống và người đã từ trần.

Trường hợp bà mẹ có chồng, con tham gia hàng ngũ địch nhưng bà mẹ chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì vẫn được xem xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước ‘‘Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

2. Những trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng phản bội, đầu hàng địch, có hành động gây nguy hại cho cách mạng hoặc vi phạm pháp luật bị Tòa án xét xử bằng hình thức phạt tù mà bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật (kể cả trường hợp được hưởng án treo) thì không được xét tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Theo như bạn trình bày, mẹ bạn là vợ liệt sĩ tái giá và 1 con trai là liệt sĩ nên chỉ được xét tặng khi thỏa mãn điều kiện được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 3 Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BQP-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" như sau:

"3. Bà mẹ là vợ liệt sĩ tái giá hoặc bà mẹ là mẹ liệt sĩ tái giá

a) Xét tặng hoặc truy tặng cho bà mẹ là vợ liệt sĩ tái giá nhưng vẫn có trách nhiệm chăm sóc bố mẹ của liệt sĩ và nuôi con của liệt sĩ đến tuổi trưởng thành hoặc vì thực hiện nhiệm vụ hoạt động cách mạng mà không có điều kiện chăm sóc con hoặc bố, mẹ của liệt sĩ. Các trường hợp này phải được chính quyền cấp xã nơi lập hồ sơ xác nhận."

Như vậy, nếu mẹ bạn thỏa mãn các điều kiện trên thì sẽ được truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng". 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 56/2013/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bà mẹ đăng ký hộ khẩu thường trú (đối với bà mẹ còn sống) hoặc nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người được ủy quyền kê khai có trách nhiệm làm thủ tục:

"Điều 5. Trình tự, thủ tục

1. Bà mẹ hoặc thân nhân của bà mẹ lập bản khai cá nhân hoặc thân nhân (01 bản chính) kèm theo giấy tờ làm căn cứ xét duyệt (03 bộ), nộp về Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bà mẹ đăng ký hộ khẩu thường trú (đối với bà mẹ còn sống) hoặc nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người được ủy quyền kê khai.

..."

Người đứng ra nhận chế độ ưu đãi sau khi được truy tặng được quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 56/2013/NĐ-CP như sau:

"Điều 3. Chế độ ưu đãi

...

2. Bà mẹ được truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” thì thân nhân thờ cúng bà mẹ được nhận Bằng, Huy hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.

..."

Trên đây là những giải đáp, tư vấn từ phía Công ty Luật Minh Khuê cho câu hỏi của Quý khách hàng. Nếu còn có điều gì thắc mắc, mời Quý khách hàng vui lòng gửi thư theo địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện trực tiếp đến tổng đài 1900 6162 để được giải đáp nhanh chóng và chính xác nhất.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN- CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.