MỘT SỐ SAI SÓT THƯỜNG GẶP CỦA NGƯỜI TƯ VÁN KHI XÂY DỰNG VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN TƯ VẤN, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC.

 

1. Một số những sai sót và nguyên nhân     

Để thực hiện tốt hoạt động tư vấn pháp luật, người tư vấn ngoài những kiến thức chuyên môn còn cần trao dồi và rèn luyện rất nhiều kỹ năng cần thiết. Và do đây là một hoạt động thuộc lĩnh vực trí óc nên không phải lúc nào người tư vấn cũng có thể làm hoàn hảo đối với tất cả các vụ việc. Kinh nghiệm, kiến thức… đều cần tích lũy qua thời gian, do vậy nên trong quá trình hoạt động tư vấn, người tư vấn vẫn còn gặp những sai sót bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan hay khách quan. Nhất là trong khi xây dựng và lựa chọn phương án tư vấn, người tư vấn thường gặp phải một số những sai sót như:

     Thứ nhất, người tư vấn sau khi tiếp xúc khách hành để thu thập thông tin, nhưng lại không nắm bắt được toàn diện và đầy đủ thông tin, bên cạnh đó còn nhìn nhận thông tin một cách phiến diện khi chỉ nghe từ một phía khách hàng mà không tiến hành xác minh lại thông tin đó. Nguyên nhận chủ yếu dấn đến sai sót này cả người tư vấn là do do người tư vấn quá chủ quan, nghĩ rằng mình đã nắm bắt được các vấn đề mà khách hàng muốn nói nên không xác định lại các thông tin mình nghe được, hoặc do họ còn thiếu các kỹ năng trong việc tiếp thu thông tin, phân tích và xử lý. Có đôi khi việc người tư vấn hiểu sai ý của khách hàng do họ trình bày quá dài dòng hay lan man thì người tư vấn cần chủ động khéo léo hỏi lại những vấn đề quan trọng trong nội dung vụ việc có gắn với yếu tố pháp lý hay đặt những câu hỏi dẫn dắt họ để khách hàng không kể lể quá dài dòng, lan man gây nhầm lân cho người tư vấn. Việc gây nhầm lẫn ở giai đoạn tiếp xúc khách hàng và tiếp nhận thông tin này có thể ảnh hưởng rất lớn trong việc nguời tư vấn đưa ra các phương án tư vấn. Bởi nếu như ngay từ đầu họ đã có cách nhìn nhận sai về vụ việc thì các bước tiếp theo người tư vấn sẽ không thể đi đúng theo những yêu cầu thực sự mà khách hàng mong muốn.

     Ví dụ: anh A đến văn phòng tư vấn pháp luật muốn xin tư vấn về việc anh bị công ty mình đang làm việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, khi anh A trình bày sự việc lại lan man kể về quá trình anh làm việc, sự nỗ lực khi của anh khi còn ở công ty mà không cho người tư vấn biết lí do mà công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng với anh, cũng như phương thức, cách thức công ty tiến hành cho anh A nghỉ việc. Do vây, trường hợp này, nếu người tư vấn chỉ lắng nghe thông tin từ phía anh A cũng như không tiến hành hỏi lại khách hàng của mình những chi tiết quan trọng, mấu chốt, yêu cầu anh A cung cấp những giấy tờ liên quan đến vụ việc như: giấy thông báo việc chấm dứt hợp đồng, hợp đồng lao động mà anh A ký với công ty… thì người tư vấn sẽ không có cái nhìn toàn diện về vụ việc, cũng như đánh giá vụ việc một cách khách quan nhất, từ đó không thể giải thích rõ nguyên nhân và yêu cầu của anh A trong trường hợp này.

     Thứ hai, người tư vấn thường mắc những sai sót trong quá trình xác minh và đánh giá chứng cứ của vụ việc cụ thể như: hoạt động tìm kiếm chứng cứ sơ xài, không toàn diện, đánh giá chứng cứ không khách quan khi chỉ dựa vào sự phán xét của bản thân. Từ đó có thể dẫn đến hạu quả là người tư vấn nhận định sai về vụ việc, đưa ra giải pháp không phù hợp với khách hàng. Có khá nhiều trường hợp, người tư vấn khi nhận một vụ việc nào đó họ đã mặc định rằng thân chủ của mình là đúng và luôn chỉ đi tìm hiểu những chứng cứ có lợi cho thân chủ của mình. Họ không tự mình đặt ra những trường hợp trên thực tế, phía bên kia có thể có những chứng cứ bất lợi đối với họ hoặc đôi khi một chứng cứ vừa có thể là có lợi cho thân chủ mình nhưng ngược lại nếu xem xét nó dưới một góc độ khác nó lại chính là chứng cứ phản biện lại thân chủ mình. Chính vì vây, việc người tư vấn thu thập chứng cứ, nghiên cứu và đánh giá chúng một cách không toàn diện cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc xây dựng các phương án tư vấn sau này.

     Ví dụ: trong một vụ án hình sự, nếu người tư vấn đồng thời cũng là luật sư đại điện của bị cáo trong quá trình thu thập, xác minh và đánh giá chứng cứ lại có những sai sót như: tiến hành tìm kiếm qua quýt những chứng cứ có lợi cho thân chủ của mình, đánh giá chứng cứ không khách quan, toàn diện và nhân định chứng cứ có lợi thì có thể đẩy thân chủ của mình và thế khó khăn, gặp rất nhiều bất lợi khi vụ án được xét xử. Do đó trong bất kỳ trường hợp nào, người tư vấn cùng cần tìm kiếm và đánh giá toàn diện, khách quan các chứng cứ có liên quan đến vụ việc, bởi chứng cứ chính là nút thắt để giải quyết vấn đề của vụ việc.

      Thứ ba, trong nhiều trường hợp người tư vấn sử dụng sai các quy phạm phám luật cần áp dụng hoặc việc hiểu không đúng cách, không rõ nghĩa hay việc sử dụng các quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực sẽ dẫn đến việc xây dựng các phương án tư vấn là hoàn toàn vô nghĩa. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sai sót này là việc người tư vấn còn thiếu các kỹ năng tra cứu và đánh giá văn bản pháp luật liên quan đến vụ việc. Trong hoạt động tư vấn, điều quan trọng nhất có lẽ là việc tuân thủ đúng các quy định của pháp luật để bảo vệ đúng quyền lợi của khách hàng. Việc gắn các vụ việc, các tình tiết pháp lý với các quy phạm của pháp luật là điều hết sức quan trọng bởi nếu như người tư vấn sử dụng các quy phạm pháp luật không chính xác thì coi như việc giải quyết yêu cầu của khách hàng sẽ không được đáp ứng.

     Ví dụ: trong vụ án tranh chấp thương mại, công ty A đến xin luật sư tư vấn để đảm, quyền và lợi ích của công ty mình. Như đã biết tì trong lĩnh vực thương mại nói chung và các quy định về giải quyết tranh chấp thương mại không chỉ ở Việt Nam và cả các nước trên thế giới đều rất nhiều và phức tạp. Đê có thể lựa chon được những Điều luật, quy định phù hợp nhất giải quyết một vụ tranh chấp thương mại, người tư vấn ngoài kiến thức chuyên sâu, còn cần rất nhiều kỹ năng tra cứu, đi cùng với đánh giá điều luật vào thực tế vụ việc. Trước hết, người tư vấn cần tra cứu từ cái rộng nhất cho đến cái chi tiết, sau đó rút ra những quy định có thể áp dụng mang lại hiểu quả và lợi ích tốt nhất cho khách hàng của mình. Cụ thể, ở đây, trước tiên, người tư vấn cần tra cứu những quy định còn hiệu lực pháp lí về thương mại, nhất là cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại, sau đó đi vào chế định giải quyết tranh chấp thương mại trong từng ngành nghề cụ thể nếu có ngành nghề đang tranh chấp có quy định riêng. Dựa vào những thông tin, chứng cứ khách hành cung cấp và thu thập của mình, kết hợp với tư duy logic của người làm luật để nhận định, đánh giá các điều luật liên quan đến vụ việc, tù đó xây dựng phương án giải quyết tối ưu cho khách hàng của mình.

     Thứ tư, trong quá trình tiếp xúc khách hàng để thu thập thông tin, triển khai xây dựng và lựa chon phương án tư vấn, người tư vấn còn mắc phải một số những sai sót về vấn đề cách diễn đạt, lời văn, câu chữ khó hiểu không phù hợp với trình độ văn hóa của khách hàng. Việc tiếp xúc với khách hàng là rất quan trọng, qua đó người tư vấn có thể đánh giá được trình độ văn hóa của khách hàng và sẽ có những cách tiếp xúc trao đổi phù hợp với từng đối tượng khách hành, ví dụ:  như khi phân tích các phương án tư vấn giữa một người am hiểu pháp luật cũng như các thuật ngữ chuyên ngành sẽ hoàn toàn khác với việc đưa ra phương án tư vấn cho một người bán hàng rong ở chợ và chưa từng tiếp xúc với pháp luật. Chính vì vậy, người tư vấn nên chú trọng đến cách sử dụng từ ngữ diễn đạt sao cho phù hợp với từng đối tượng khách hàng.

     Bên cạnh đó, sai sót thường gặp nhất của người tư vấn trong quá trình xây dựng và lựa chọn phương án tư vấn chính là khả năng dự liệu các tình huống có thể xảy ra đối với vụ việc. Nếu thiếu hoặc mắc sai lầm trong việc dự liệu các tình huống có thể xảy ra, thì người tư vấn có thể sẽ đẩy khách hàng của mình vào hoàn cảnh bất lợi, nếu tình huống xấu xảy ra cũng như chính người tư vấn cũng rơi vào thế bị động, làm cho vụ việc mình tư vấn không thể đạt kết quả tốt nhất, thậm chí là thất bại. Dự liệu được những tình huống có thể sẽ xảy ra giúp cho người tư vấn cũng như khách hàng của mình có sự chuẩn bị ứng đối với những trường hợp xảy ra, ngay cả khi tình huống không có lợi, thì vẫn có thể giữ được sự bình tình và chủ động. Do vậy, người tư vấn pháp luật cần rèn luyện hơn nữa những kỹ năng cần thiết để làm việc hiểu quả hơn.

     Ví dụ: khi người tư vấn bảo vệ quyền và lợi ích của thân chủ mình trước một người khác khi có tranh chấp xảy ra. Thì ngoài những kỹ năng cần thiết trên, việc không thể thiếu là họ cần có sự dự liệu trước các tình huống có thể xảy ra trong quá trình giải quyết vụ việc. Nếu người tư vấn dự liệu được những lập luận, chứng cứ mà bên kia có thể đưa ra chống lại thân chủ của mình thì mới có thể chuẩn bị được những lập luận để bảo vệ tốt nhất cho thân chủ mình đang đại diện. Đồng thời nắm được thế chủ động trong quá trình giải quyết tranh chấp, điều đó mang lại những thuận lợi cho người tư vấn, luật sư, tư vấn viên…

 

2. Một số giải pháp nhằm khắc phục những sai sót trên

     Trước tiên, người tư vấn cần trao dồi kỹ năng lắng nghe khách hàng của mình. Hãy lắng nghe một cách thông minh, chú trọng nhiều vào các tình tiết quan trọng, có tính quyết định đối với vụ việc. Biết cách ghi chép và hỏi lại khách hàng để đánh giá thông tin, cũng như nhìn nhận toàn diện vụ việc. Cần nhìn nhận vụ việc một cách khách quan, tránh sự thiên lệch đối với lời kể của khách hàng bằng việc tìm hiểu và đánh giá thêm các chi tiết và thông tin liên quan từ các nguồn khác ngoài cuộc tiếp xúc với khách hàng của mình.

     Người tư vấn cần yêu cầu khách hàng của mình cung cấp những tài liệu, chứng cứ có liên quan mà khách hàn đang nắm giữ vì những giấy tờ tài liệu này phản ảnh diễn biến của quá trình tranh chấp hoặc chất của vụ việc mà khách hàng yêu cầu tư vấn. Nếu người tư vấn không có được những tài liệu này thì việc tư vấn có thể sẽ không chính xác.

     Người làm việc trong lĩnh vực tư vấn pháp luật luôn có tư duy nhạy bén của nghề. Nhưng bên cạnh đó, họ cũng cần trang bị thêm rất nhiều kỹ năng ngoài những tri thức đã có. Và đối với quá trình xây dựng và lựa chọn phương án tư vấn cũng vậy, ngoài sự nhạy bén, người tư vấn cần có sự tư duy logic trong quá trình thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Có thể nói đây là là bước rất quan trọng trong việc người tư vấn định hướng, xây dựng các phương án tư vấn bởi chính từ những chứng cứ này người tư vấn mới có thể định hướng được nên áp dụng điều khoản cụ thể nào, việc xác định tính xác thực của chứng cứ sẽ quyết định tới việc người tư vấn nên áp dụng luật như thế nào. Qúa trình thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ là quá trình đòi hỏi độ chính xác, độ tin cậy rất cao, yêu cầu đối với người tư vấn là rất khắt khe, họ phải có đủ những kỹ năng không chỉ về mặt lý thuyết mà còn đòi hỏi các kỹ năng về thực tế rất nhiều. Các biện pháp đó có thể là đặt những câu hỏi cho khách hàng tham khảo tài liệu, viện dẫn văn bản, liên lạc với các cơ quan chuyên môn, vận dụng kinh nghiệm cá nhân hoặc kinh nghiệm của người khác….

     Song hành với quá trình xây dựng và lựa chọn phương án tư vấn, chính là kỹ năng tra cứu điều luật có liên quan để đưa ra phương án giải quyết tốt nhất cho khách hàng. Đối với người tư vấn, việc tra cứu văn bản pháp luật, các tài liệu tham khảo là điều bắt buộc vì bản chất của tư vấn pháp luật là hướng dẫn, là giải đáp cho khách hàng theo đúng những quy định của pháp luật và chỉ khi nào áp dụng đúng luật thì người tư vấn mới có thể đảm bảo được quyền lợi của khách hàng. Do có thể mắc những sai sót trong quá trình tra cứu pháp luật, do đó người tư vấn có thể lựa chọn đề nghị khách hàng cho thêm thời gian để xem xét lại hệ thống các điều luật có liên quan đến vụ việc, sau đó mới tiến hành đưa ra các giải pháp cho khách hàng lựa chọn. Như vậy, thì có thể tránh được trường hợp áp dụng sai, hoăc không chính xác các điều luật.

     Cuối cùng, người tư vấn pháp luật, trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình cần không ngừng trao dồi kỹ năng giao tiếp nói chung, cũng như kỹ năng tiếp xúc khách hàng nói riêng để từ đó không ngừng nâng cao khả năng diễn đạt, sử dụng văn phong phù hợp đối với từng đối tượng khách hàng.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)