Vào thời điểm này em gái tôi đang ở nước ngoài. Do vậy chủ thể hợp đồng đặt cọc chỉ có giữa em rể tôi ( bên nhận đặt cọc-bên bán) và ông Lê văn A (bên đặt cọc- bên mua). Nhưng sau đó em gái tôi biết chuyện không đồng ý chuyển nhượng và khẳng định giấy nhận đặt cọc do một mình chồng cô ấy (em rể tôi) ký cam kết bán nhà đất nói trên là vô hiệu vì đây là tài sản chung của vợ chồng có được trong thời gian hôn nhân. Do vợ không đồng ý cho nên em rể tôi không thể thực hiện đúng như cam kết đã nhận đặt cọc để nhượng bán nhà đất nói trên. Chú ấy đã thương thuyết với bên mua để trả lại số tiền đặt cọc và đề xuất sẽ bồi thường thiệt hại cho bên mua bằng số tiền lãi gửi ngân hàng là thỏa đáng, nhưng bên mua họ yêu cầu ngoài số tiền đặt cọc còn phải chịu phạt 500 triệu đồng như đã cam kết. Chú ấy không có khả năng và cũng không muốn phải chịu phạt lớn như vậy. Là người nhà chúng tôi thiết nghĩ bên mua họ quá ép, chứ khi làm giấy đặt cọc họ cũng biết nhà đắt đó là tài sản chung của vợ chồng em gái tôi, mà họ vẫn ký đặt cọc riêng với một mình em rể tôi cũng là sai. Chúng tôi vẫn đang cố gắng tìm cách thuyết phục bên mua để ổn thỏa cho cả hai bên, không bên nào phải bị thiệt hại lớn. Do vậy thay mặt em tôi, tôi xin ý kiến của Luật sư tư vấn về những qui định của pháp luật sẽ giải quyết vụ việc này như thế nào cho được thoả đáng thấu tình, đạt lý. Chúng tôi xin cung cấp thêm thông tin khi các Luật sư có yêu cầu. Thông tin tư vấn của Luật sư xin gửi về địa chỉ E-Mail.Mọi chi phí tư vấn chúng tôi sẽ thanh toán qua tài khoản đầy đủ cho bên Cty Luật Minh Khuê.

Tôi xin chân thành cảm ơn. Trân trọng!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đaicủa công ty luật MINH KHUÊ.

>> Luật sư tư vấn luật đất đai  trực tuyến, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp luật:

- Bộ luật dân sự năm 2005

2. Nội dung tư vấn:

Trước hết, về việc bên đặt cọc không biết đó là tài sản chung của vợ chồng em bạn mà vẫn tiến hành đặt cọc là không trái với quy định của pháp luật vì pháp luật dân sự không buộc bên đặt cọc phải biết điều này. Chính vì thế, họ không có lỗi 

Đối với trường hợp của vợ chồng em bạn, theo quy định tại Điều 358 BLDS năm 2005 quy định về đăt cọc:

"Điều 358. Đặt cọc

1. Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.

Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.

2. Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác"

Như vậy, chồng em bạn đã không thực hiện đúng theo hợp đồng dân sự với nội dung là chuyển nhượng quyền sử dụng đất và căn nhà vì thế chồng em bạn phải trả lại 500 triệu đã nhận và một khoản tiền là 500 triệu ( đây là khoản tiền tương đương với giá trị tài sản đặt cọc ban đầu)

Tuy nhiên, để có thể thay đổi về mức bồi thường thiệt hại này, thì bên phía vợ chồng em có thể thỏa thuận với nhau để giảm mức bồi thường

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bác vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư dân sự.