Từ khi đi làm tất cả tiền kiếm được chồng tôi đều đưa cho mẹ chồng. Hiện nay mẹ chồng tôi đang có 1xe đầu kéo mang tên bà, 1sổ đỏ đất tên bà, tài khoản ngân hàng 1,2 tỷ và mảnh đất gia đình nhà chồng đang ở. Vợ chồng tôi kết hôn tháng 6 năm 2014. Vì có vợ nên mỗi tháng chồng tôi bới tiền đưa cho tôi vài triệu để tiêu vặt. Khi biết mẹ chồng tôi tỏ ý không hài lòng cuộc sống gia đình dần căng thẳng. Chồng tôi muốn được ở riêng và muốn bà chuyển trả đất thành phố với lấy 1con xe đầu kéo để làm ăn. Mẹ chồng tôi không đồng ý bà muốn tất cả tiền bà vẫn giữ, tài sản vẫn của bà. Chồng tôi rất khó chịu cho đến đầu năm 2015 âm lịch chồng tôi đã giữ 2con xe để đi làm muốn kiếm tiền mua đất xây nhà riêng cho vợ con đỡ khổ. Từ lúc đó đến giờ mẹ chồng tôi lúc nào cũng đe dọa chồng tôi phải trả xe cho bà nếu không bà sẽ kiện chồng tôi ra tòa vì tội chiếm đoạt tài sản. Nhà chồng tôi có bố chồng, mẹ chồng, em trai chồng chưa kết hôn, em gái chồng đã kết hôn. Do không chịu nổi mẹ chông nên bố chồng tôi đã chuyển về quê (Hải Dương) từ khoảng năm 2008. Xin nói qua 1 chút về mẹ chồng tôi: bà nói khi bà ở nhà thì bố mẹ nuôi, lấy chồng thì chồng nuôi, chồng bỏ đi thì con nuôi. Các cô chú ruột cuả chồng tôi nói bà là người ngoài hành tinh chứ trái đất không có người như vậy, quái thai!. Họ hàng anh em bà đều không cần. Thứ duy nhất bà cần là tiền thôi Vậy xin hỏi luật sư nếu ra tòa vợ chồng tôi sẽ được những gì? Bao nhiêu năm chồng tôi lặn lội vất vả ngược xuôi có được gì không? Mong luật sư sớm hồi đáp! Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Hùng

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật đất đai của công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, rất hân hạnh được trả lời câu hỏi của bạn.

1. Cơ sở pháp lý.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011.

Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định về "Chứng cứ và chứng minh" của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS.

2. Nội dung trả lời.

Trên thực tế và cả trên quy định của pháp luật, việc một người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu không đồng nghĩa với việc người đó chính là chủ sở hữu của tài sản đó. Trường hợp của bạn, chồng bạn là người làm ra của cải, tiền bạc, nhưng các tài sản đều do mẹ chồng của bạn đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu. Mẹ chồng bạn muốn chiếm giữ những tài sản này cho riêng mình và đe dọa sẽ khởi kiện chồng bạn về việc chiếm đoạt tài sản. Trường hợp mẹ bạn khởi kiện ra Tòa, việc vợ chồng bạn có được gì hay không phụ thuộc vào việc chứng minh nguồn gốc hình thành tài sản của vợ chồng bạn.

Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chứng minh như sau:
"1. Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh".

Theo đó, khi mẹ chồng bạn khởi kiện chồng bạn về việc chiếm đoạt tài sản thì bà có nghĩa vụ chứng minh về việc tài sản là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà, đồng thời chứng minh tồn tại hành vi chiếm đoạt tài sản. 

Ngược lại, khi bị kiện, chồng bạn chắc chắn là phải có sự phản đối đối với yêu cầu của mẹ chồng bạn. Khi đó, chồng bạn cũng phải đưa ra được chứng cứ chứng minh việc tài sản mặc dù đứng tên mẹ chồng bạn nhưng hoàn toàn là do chồng bạn bằng công sức của mình tạo dựng lên. Ngoài ra, giữa chồng bạn và mẹ chồng bạn cũng không tồn tại một hợp đồng tặng cho tài sản nào. Việc chứng minh của chồng bạn là chứng minh quá trình lao động, hình thành tài sản của chồng bạn là độc lập với mẹ chồng của bạn. 

Trong một vụ tranh chấp thì vấn đề chứng minh là rất quan trọng, bởi khi đưa ra được các chứng cứ, tài liệu được Tòa án thừa nhận thì coi như phần thằng thuộc về người đó.

Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP cũng chỉ ra rằng, "về nguyên tắc chung, cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của đương sự, của cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác",  "nếu đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ, thì Toà án tiến hành giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục chung. Toà án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc dân sự và nếu vụ việc dân sự được xét xử, giải quyết tại phiên toà, phiên họp, thì Toà án chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, phiên họp, kết quả của việc hỏi tại phiên toà, phiên họp, xem xét đầy đủ ý kiến của người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên để quyết định. Đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ".  

Như vậy, trường hợp mẹ chồng bạn khởi kiện chồng bạn, để có thể bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình, chồng bạn phải chứng minh được về việc anh này đã bằng công sức lao động của mình hình thành nên khối tài sản đó và độc lập với người mẹ. Điều luật cũng chỉ ra, Tòa án chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thu thập. Nếu không chứng minh được thì đồng nghĩa với việc yêu cầu của mẹ chồng bạn là đúng. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi, nếu còn thắc mắc bạn vui lòng gửi qua địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900 6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê