Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2015

Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội

2. Nội dung phân tích:

Bộ luật dân sự quy định:

"Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng."

"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này."

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Gia đình em bị mất sổ đỏ từ rất lâu rồi, nên bây giờ em đã làm thủ tục xin cấp lại giấy chứng nhân quyền sử dụng đất,. em đã làm thủ tục đẩy đủ rôi, nhưng em ra huyện nộp hồ sơ thì họ biểu em phải về lâp biên bản họp mặt gia đình,để xác nhân quyền thừa kế là mẹ. Vì bố em đã mất từ lâu rồi,nên các anh em trong gia đình phải họp lai và xác định người thừa ké là mẹ em. nên bây giờ em cũng không biết phải viết biên bản thế nào, em đã tham khảo các đơn trên mạng, nhưng em vẩn cảm thấy chưa xác thực lắm. nay xin luật sư cho em cái mẫu của biên bản họp mặt gia đình xác định người thừa kế.

Mẫu biên bản phân chia di sản thừa kế bạn tham khảo TẠI ĐÂY.

Ông, bà em có một thửa đất khoảng 1200m2 được tạo lập từ xưa, đến khi ông bà mất thì để lại cho cha mẹ em (không có giấy tờ cho nhận) ba mẹ em quản lý sử dụng. ba mẹ em sinh được 07 người con. đến năm 1994 ba em mất chỉ còn mẹ khi đó chính quyền địa phương có thông báo kê khai đất để làm giấy tờ đất. năm đó chị dâu em đi kê khai và để anh trai em đứng tên. khi làm thủ tục giấy tờ thì không có đủ chữ ký của các anh em trong nhà. hiện nay mẹ em cũng đã mất.Luật sư cho em hỏi em có được thừa kế trong phần đất này không?, anh trai em không chịu chia đất cho em, em phải làm sao để đòi được quyền lợi của mình.

=> Năm 1994 chị dâu bạn đi kê khai đất và để anh trai bạn đứng tên. Trước đó nếu như ông bà, bố mẹ bạn không hề có bất kì giấy tờ, tài liệu nào chứng minh là đất do mình đã sử dụng ổn định, lâu dài, không có tranh chấp thì tại thời điểm hiện tại bạn không có căn cứ để thừa kế mảnh đất này.

lúc còn sống chị dâu tôi có vay tiền ngân hàng. Nay chị mất rồi mà nợ vẫn còn do vay để trị bệnh ( ung thư máu) . Ngân hàng tới nhà a trai là chồng để đòi nợ.nhưng k có 1 giấy tờ thừa kế nào. Vậy dựa vào đâu để biết a trai tôi có phải trả số nợ đó không

=> Trường hợp này chị dâu bạn không để lại di chúc thì di sản mà chị dâu để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Theo quy định pháp luật thì hàng thừa kế thứ nhất gồm có:

"vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết"

Vậy anh trai bạn là chồng của chị dâu thì anh trai bạn có nghĩa vụ thực hiện việc trả nợ thay cho chị dâu trong phạm vi di sản được thừa kế.

mẹ tôi khi còn sống có vay 10 triệu đồng của ngân hàng AB .nay mẹ tôi đã chết 1 năm. mẹ tôi ở với bà ngoại tôi và có 2 con gái đã lấy chồng. Hiện nay tôi được biết hồ sơ tại ngân hàng mẹ tôi vay không có người thừa kế,nhưng ở xã lại có ghi giấy tờ có người thừa kế (HTP) không phải tên và chữ ký của chị gái tôi. tên Chị tôi là NTP. khoản vay từ năm 2007 khi chị tôi lấy chồng từ 2005.còn tôi thì khi đó mới 11 tuổi. nay trưởng thôn vào làm việc và thông báo sẽ thu hồi sổ đỏ của gia đình tôi đứng tên bà ngoại tôi. trong khi hoàn cảnh gia đình khó khăn thì số nợ đó có phải trả hay không có thể khoanh nợ được ko ak? thứ 2: Trong khi năm 2009 bà ngoại tôi đã làm giấy tờ sang tên cho mẹ tôi. đến khi mẹ tôi mất tôi ra xã làm giấy tờ thì xã lại thông báo hiện nay bà tôi không thể sang tên cho chị em tôi hay bất cứ ai vì đã chuyển quyền sử dụng đất sang cho mẹ tôi rồi.

=> Hiện tại trong hồ sơ ngân hàng mẹ bạn vay có tên và chữ ký không hợp lệ nên phần người thừa kế trong hợp đồng được coi là vô hiệu.

Tuy nhiên hiện nay mẹ bạn đã mất, không để lại di chúc thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ có nghĩa vụ trả nợ ngân hàng thay cho mẹ bạn trong phạm vi di sản được nhận.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bạn đứng tên bà ngoại của bạn nhung đến năm 2009 đã sang tên cho mẹ bạn thì ngân hàng có thể kết hợp với các cơ quan có thẩm quyền để kê biên tài sản này để thu hồi nợ.

Bố mẹ chồng tôi có 3 người con, 2 trai và 1 gái, trong đó người con gái là con nuôi. Cả ba người con đều đã lập gia đình. Chồng tôi là con trai út. Các cụ nội ngoại đều đã qua đời. Giờ bố tôi tính chia đất cho vợ chồng tôi và gia đình anh cả. Vợ chồng tôi muốn bố chia thì chia rõ ràng, làm sổ đỏ cho 2 anh em rạch ròi luôn, tránh tranh chấp về sau, nhưng bố tôi bảo chỉ cần làm sổ đỏ cho anh cả thôi, còn phần đất còn lại vẫn đứng tên bố tôi, sau này bố mẹ tôi mất đi thì nó vẫn là của vợ chồng tôi, vì hiện giờ 2 vợ chồng tôi sống cùng bố mẹ, nhà anh cả ở riêng trên phần đất được chia. Xin luật sư cho hỏi, với cách chia đất của bố chồng tôi như thế, sau này khi các cụ khuất núi thì thủ tục sang tên sổ đỏ cho chồng tôi có gặp rắc rối gì không? Trong trường hợp xấu, liệu anh em có thể tranh giành đất còn lại của vợ chồng tôi không?

=> Theo như những gì bạn bạn trình bày, với cách bố bạn chia đất như vậy thì sau khi bố bạn sang tên mảnh đất này cho anh cả thì anh cả có toàn quyền sử dụng với mảnh đất này. Luật đất đai quy định:

"Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất."

Vậy khi bố mẹ bạn còn sống, bố mẹ bạn đã sang tên cho anh bạn rồi thì sau này khi bố mẹ mất, bạn không thể đòi lại được.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê.