Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự công ty luật Minh Khuê.

Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT)?

Luật sư tư vấn về pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994: Hiệp định ngày 12/04/1979 chung về thuế quan và thương mại - GATT

Hiệp định Chung số 203/WTO/VB về thương mại Dịch vụ-GATS

Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ

Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội : PL Về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế

2. Nội dung tư vấn:

Trong thương mại quốc tế, nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment) được hiểu là dựa trên cam kết thương mại, một nước sẽ dành cho sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp của nước khác những ưu đãi không kém hơn so với ưu đãi mà nước đó đang và sẽ dành cho sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp của nước mình. Điều này có nghĩa là nước nhập khẩu không được đối xử phân biệt giữa sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp trong nước với sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp nước ngoài về thuế và các khoản lệ phí trong nước cũng như về điều kiện cạnh tranh.

Cụ thể trong WTO, nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia được quy định tại điều III GATT (Hiệp định chung về thuế quan và thương mại), điều XVII GATS và điều III TRIPs. Theo đó thì hàng hoá, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã qua thủ tục hải quan (đã trả các khoản thuế được luật định)  hay được đăng ký bảo hộ thì phải được đối xử bình đẳng như hàng hoá, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ trong nước.Và ở Việt nam hiện tại cũng có pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH10 ngày 25 tháng 5 năm 2002 về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế.

Nguyên tắc NT kết hợp với MFN là hai nguyên tắc đá tảng của WTO nhằm thực hiện mục tiêu không phân biệt đối xử và tự do hóa thương mại giữa các nước thành viên. 

Nguyên tắc đối xử quốc gia được thể hiện như sau:

1. Nguyên tắc đối xử quốc gia trong lĩnh vực thương mại hàng hóa:

Tại điều III GATT 1994 quy định: "Sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất cứ một bên ký kết nào vào lãnh thổ của bất cứ một bên ký kết khác sẽ được hưởng đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ dành cho sản phẩm tương tự có xuất xứ nội".

Phạm vi áp dụng:
Trong thương mại quốc tế, nguyên tắc MFN được coi là quy tắc cư xử đầu tiên mà nước sở tại phải tuân thủ khi tiếp nhận hàng hóa, dịch vụ hay thương nhân nước ngoài. Vì vậy phạm vi áp dụng của MFN tập trung chủ yếu ở các thủ tục đầu tiên: như thuế nhập khẩu, biện pháp phi thuế quan… Trong khi đó nguyên tắc NT được coi là quy tắc cư xử mà nước sở tại phải tuân thủ khi hàng hóa, dịch vụ hay thương nhân nước ngoài đã vào sâu trong thị trường nội địa. Vì vậy phạm vi áp dụng của nguyên tắc NT chủ yếu là các biện pháp nội địa.

- Thuế và lệ phí trong nước (khoản 2, điều 3):

 + Các nước thành viên không được phép đánh thuế và các lệ phí đối với sản phẩm nhập khẩu cao hơn sản phẩm nội địa cùng loại.

 + Các nước thành viên không được phép áp dụng thuế và lệ phí trong nước đối với sản phẩm nhập khẩu hoặc sản phẩm nội địa theo phương pháp nào đó nhằm bảo hộ sản xuất trong nước.

- Quy chế mua bán (khoản 4, điều 3) :

 + Pháp luật, quy định và các yêu cầu khách ảnh hưởng đến mua bán, vận tải, phân phối hay sử dụng sản phẩm trong nước không được phép đối xử với sản phẩm nhập khẩu kém hơn so với sản phẩm nội địa cùng loại.

- Quy chế số lượng (khoản 5, điều 3):

 + Các nước thành viên không được phép đặt ra hoặc duy trì quy chế trong nước về số lượng liên quan đến sự pha trộn, chế biến hoặc sử dụng các sản phẩm theo một số lượng hoặc tỉ lệ nhất định, trong đó yêu cầu rằng số lượng hoặc tỉ lệ pha trộn của sản phẩm là đối tượng của quy chế này phải được cung cấp từ nguồn trong nước, hay áp dụng quy chế số lượng này theo cách thức nhằm bảo vệ sản xuất trong nước.

Cần lưu ý theo quy định này thì bất cứ tỷ lệ nội địa hóa nào cũng bị coi là vi phạm NT cho dù là 5% hay 50%.

Ví dụ: Nước X cho sản phẩm ô tô nội địa phải đạt tối thiểu 30% linh kiện lắp ráp nội địa và được hưởng ưu đãi về thuế trong nước nếu đạt 50% linh kiện lắp ráp nội địa. Rõ ràng đây là tỷ lệ nội địa hóa vi phạm nguyên tắc NT.

Tuy nhiên, không phải nguyên tắc nào cũng tuyệt đối, và nguyên tắc này cũng có những ngoại lệ nhất định.

Các ngoại lệ được quy định tại Hiệp định GATT 1994 như sau:

- Cung cấp các khoản tiền trợ cấp đới với người sản xuất trong nước (điểm b khoản 8 điều 3).

- Phân bổ thời gian chiếu phim vì mục đích thương mại giữa phim trong nước và phim nước ngoài theo quy định tại điều IV GATT 1994.

- Mua sắm của Chính phủ quy định tại Điểm a, khoản 8 điều 3.

Các ngoại lệ khác: Các ngoại lệ chung của nhóm nguyên tắc tự do hóa thương mại: Điều 20, 21, 25 GATT.

(Khoản 5 điều 3 Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH10 quy định:

"5. Đối xử quốc gia trong thương mại hàng hoá" là đối xử không kém thuận lợi hơn đối xử mà Việt Nam dành cho hàng hoá nhập khẩu so với hàng hoá tương tự trong nước.")

2. Nguyên tắc đối xử quốc gia trong lĩnh vực thương mại dịch vụ

Điều 6 GATS  quy định: "Trong thương mại dịch vụ, các nước phải dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp của nước khác thuộc lĩnh vực ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào danh mục cam kết cụ thể của mình những ưu đãi không kém hơn những ưu đãi nước đó dành cho dịch vụ và nhà cung cấp nước mình".

"Điều 17: Đối xử quốc gia

1. Trong những lĩnh vực được nêu trong Danh mục cam kết, và tùy thuộc vào các điều kiện và tiêu chuẩn được quy định trong Danh mục đó, liên quan tới tất cả các biện pháp có tác động đến việc cung cấp dịch vụ, mỗi Thành viên phải dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của mình[10].

2. Một Thành viên có thể đáp ứng những yêu cầu quy định tại khoản 1 bằng cách dành cho dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ một Thành viên nào khác một sự đối xử tương tự về hình thức hoặc sự đối xử khác biệt về hình thức mà thành viên đó dành cho dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ của mình.

3. Sự đối xử tương tự hoặc khác biệt về hình thức được coi là kém thuận lợi hơn nếu nó làm thay đổi điều kiện cạnh tranh có lợi cho dịch vụ hay nhà cung cấp dịch vụ của Thành viên đó so với dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ Thành viên nào khác."

Phạm vi áp dụng: Nếu trong thương mại hàng hóa là cam kết chung thì trong thương mại dịch vụ là cam kết cụ thể. Tức là mỗi quốc gia sẽ có cam kết cụ thể về đối xử quốc gia đối với từng phương thức cung cấp dịch vụ của từng phân ngành dịch vụ. Các quy định thuộc phạm vi áp dụng nguyên tắc NT trong thương mại dịch vụ:

- Điều kiện đối với nhà cung cấp dịch vụ muốn cung cấp dịch vụ tại nước sở tại. Ví dụ: Điều kiện để ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh tại nước sở tại có giống điều kiện để ngân hàng trong nước mở chi nhánh hay không, nếu giống nhau là nguyên tắc NT đã được tuân thủ.

- Phạm vi hoạt động của nhà cung cấp dịch vụ khi đã được phép cung cấp dịch vụ tại nước sở tại. Ví dụ: Quyền nhận tiền gửi bằng Việt Nam đồng từ thể nhân Việt Nam của ngân hàng nước ngoài có giống với ngân hàng VN hay không.

Ngoại lệ: Trong thương mại dịch vụ, GATS không quy định các thành viên chỉ được áp dụng ngoại lệ ở riêng lĩnh vực nào mà việc áp dụng hạn chế đối xử quốc gia sẽ do nước sở tại quyết định và đạt được sự đồng thuận từ các nước thành viên khác qua các vòng đàm phán. Chính vì vậy có thể thấy cam kết về nguyên tắc NT trong Biểu cam kết dịch vụ là kết ngược, tại đó các quốc gia nêu ra các trường hơp ngoại lệ của nguyên tắc NT cho từng phương thức cung cấp dịch vụ cho từng phân ngành dịch vụ.

Khoản 6 điều 3 Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH10 quy định:

"6. "Đối xử quốc gia trong thương mại dịch vụ" là đối xử không kém thuận lợi hơn đối xử mà Việt Nam dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài so với dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự trong nước."

3. Trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ

Tại điều III HIệp định TRIPS quy định như sau:

"1. Mỗi Thành viên phải chấp nhận cho các công dân của các Thành viên khác sự đối xử không kém thiện chí hơn so với sự đối xử của Thành viên đó đối với công dân của mình trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ[3], trong đó có lưu ý tới các ngoại lệ đã được quy định tương ứng trong Công ước Paris (1967), Công ước Berne (1971), Công ước Rome và Hiệp ước về sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp. Đối với những người biểu diễn, người sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát thanh truyền hình, nghĩa vụ này chỉ áp dụng với các quyền được quy định theo Hiệp định này. Bất kỳ Thành viên nào sử dụng các quy định tại Điều 6 Công ước Berne và khoản 1(b) Điều 16 Công ước Rome cũng phải thông báo như đã nêu trong các điều khoản nói trên cho Hội đồng TRIPS.

2. Các Thành viên chỉ có thể sử dụng các ngoại lệ nêu tại khoản 1 liên quan đến các thủ tục xét xử và hành chính, kể cả việc chỉ định địa chỉ dịch vụ hoặc bổ nhiệm đại diện trong phạm vi quyền hạn của một Thành viên, nếu những ngoại lệ đó là cần thiết để bảo đảm thi hành đúng các luật và quy định không trái với các quy định của Hiệp định này và nếu cách tiến hành các hoạt động đó không là một sự hạn chế trá hình hoạt động thương mại."

Khoản 8 điều 3 Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH10 quy định:

"8. "Đối xử quốc gia đối với quyền sở hữu trí tuệ" là đối xử không kém thuận lợi hơn đối xử mà Việt Nam dành cho việc xác lập, bảo hộ và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ và mọi lợi ích có được từ các quyền đó của tổ chức, cá nhân nước ngoài so với tổ chức, cá nhân trong nước."

Ngoài ra, nguyên tắc đối xử quốc gia còn áp dụng trong lĩnh vực đầu tư. Khoản 7 điều 3 Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH10 quy định:

"7. "Đối xử quốc gia trong đầu tư" là đối xử không kém thuận lợi hơn đối xử mà Việt Nam dành cho đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài so với đầu tư và nhà đầu tư trong nước trong những điều kiện tương tự."

Tham khảo thêm bài viết: Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về doanh nghiệp và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi vào giờ hành chính ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162 .

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê