Lúc đó sau khi kiểm tra tôi đếm và phân loại tiền theo mệnh giá với tổng số tiền:101.500.000 đồng. Sau khi đếm tôi viết phân loại tiền vào mặt sau chứng từ giao dịch tất toán và chị Cẩm ký xác nhận,  nhưng trong lúc sơ suất tôi quên số tiền chị cẩm phải giao đủ là 151.500.000 đ nên đã yêu cầu chị Cẩm ký tên vào chứng từ giao dịch tất toán mà giao dịch viên đã đưa và tôi đã giao GCNQSDĐ cho chị H. Tới cuối ngày kiểm kê phát hiện thiếu hụt 50.000.000đ từ giao dịch với chị H thì tôi đã đề nghị chị trả lại tiền cho ngân hàng, nhưng chị không thừa nhận mà còn đỗ lỗi cho nhân viên ngân hàng cất giấu. Như vậy chị H đã ký tên xác nhận nộp 101.500.000đ và lợi dụng sơ hở để chiếm đoạt số tiền 50.000.000đ. Xin hãy giúp tôi vấn đề này ?

Xin cảm ơn

Người gửi: P.T.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty luật Minh Khuê

Nhầm lẫn trong giao dịch với khách hàng có thể lấy lại được không ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi cho chúng tôi. Vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

 

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005.

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

Nội dung phân tích:

Bộ luật dân sự 2005 quy định về việc vô hiệu giao dịch dân sự do bị nhầm lẫn như sau:

"Điều 131. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn   

Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu."

Theo đó, trong trường hợp này, sau khi phát hiện có sai sót trong giao dịch với khách hàng, bạn đã yêu cầu khách hàng trả lại tiền nhưng người này vẫn cố ý chiếm giữ trái phép tài sản thì có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 141, Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009: “Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

Trường hợp khách hàng của bạn vẫn không chịu trả lại số tiền và còn đổ lỗi cho nhân viên ngân hàng cất giấu thì rất có thể sẽ cấu thành nên tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139- Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Bạn có thể gửi đơn yêu cầu cùng toàn bộ chứng từ chứng cứ khởi kiện khách hàng trên để yêu cầu trả lại số tiền.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về hình sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.