Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến một cây cầu ở Vĩnh Gia, tôi phát hiện ra là cặp xách màu đen của tôi đã rơi, tôi liền quay xe lại tìm 03 lần nhưng không thấy. Đến 19 giờ 45 phút cùng ngày, trong lúc tôi đang đi tìm thì nhận được điện thoại của Công an xã VP báo với tôi là có nhặt được 01 chiếc cặp màu đen. Công an có kiểm tra bên trong và biết thông tin của tôi nên báo tôi đến nhận. Khoảng 19 giờ 55 phút cùng ngày, tôi đến công an xã gặp 3 đồng chí công an và nhận lại chiếc cặp xách, qua xem xét bên ngoài tôi xác định đây là cặp xách của tôi, nhưng khi kiểm tra bên trong thì bị mất 01 nhẫn kim cương và 01 đồng hồ ( như mô tả ở trên).

Tôi có hỏi về người nhặt được cặp xách giao cho công an xã thì 3 đồng chí Công an nói không rõ về người này. Xin hỏi luật sư, hành vi của 2 đồng chí này có sai không và ai sẽ đem lại công bằng cho tôi.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty Luật Minh khuê.

>> Luật sư tư vấn quy định pháp trực tuyến, gọi:   1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Bộ luật dân sự 2005

2. Nội dung tư vấn

Căn cứ theo Điều 187 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 187. Quyền chiếm hữu tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu  

1. Người phát hiện tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.

Người phát hiện tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm được chiếm hữu tài sản đó từ thời điểm phát hiện đến thời điểm trả lại cho chủ sở hữu hoặc đến thời điểm giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Đối với tài sản do người khác tẩu tán nhằm che giấu hành vi vi phạm pháp luật hoặc trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người phát hiện phải thông báo hoặc giao nộp ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này."

Căn cứ theo Điều 141 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

"Điều 141. Tội chiếm giữ trái phép tài sản

1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng trở lên hoặc cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hoá có giá trị đặc biệt, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm."

Theo như trên, người nhặt được tài sản đánh rơi phải thông báo hoặc giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết ( Điều 187 Bộ luật dân sự 2005). Cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh thông tin và trả lại tài sản cho người bị đánh rơi. Bạn được trả lại tài sản nhưng bị thiếu, vậy bạn cần thông báo tới cơ quan điều tra để tiến hành khởi tố vì có dấu hiệu phạm tội. Trường hợp này chưa có căn cứ nào xác định việc thiếu tài sản là do trách nhiệm của cán bộ công an hay do người nhặt được tài sản của bạn, phụ thuộc vào kết quả điều tra của cơ quan có thẩm quyền.

Với hành vi không trả lại hoặc không giao nộp tài sản cho chủ sở hữu có thể "bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm" với tài sản có giá trị từ mười đến dưới hai trăm triệu đồng, và "bị phạt tù từ một đến năm năm" với tài sản có giá trị từ hai triệu đồng trở lên về Tội chiếm giữ trái phép tài sản. ( Điều 141 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009).

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê