Trưa ngày hôm đó tôi đang đi làm thì con gái của ông A đã nhắn tin cho tôi dùng nhiều lời lẽ nhục mạ mẹ tôi, và kêu tôi về nhắn với mẹ tôi bằng những lời nhục mạ đó. Bên cạnh đó còn vu khống mẹ tôi bằng những lời lẽ rất khó nghe. Sau đó, giờ tôi đang nghỉ trưa thì mẹ của cô gái đó (tức là vợ ông A) đã có điện thoại cho tôi và chửi bên nhà mẹ tôi là "không có con nào là chị chồng tao hết, con nào cũng là đ*", lời lẽ khó nghe vô cùng nên tôi mới tắt máy không nghe. Sau đó thì con ông A và vợ ông A đều lại nhắn tin nhục mạ tôi và mẹ tôi, vợ ông A thì nhắn tin bằng tin nhắn SMS, còn con ông A thì lại nhắn tin bên zalo nhục mạ mẹ con tôi. Tôi nói chuyện tôn trọng đàng hoàng, nhưng vợ ông A và con ông A luôn có hành vi cố ý khiêu khích tôi và mẹ tôi lên nhà ông A để cãi vã. Tôi và mẹ tôi im lặng, nhưng vợ con ông A cứ liên tiếp làm phiền đến tôi bằng những tin nhắn nhục mạ khiêu khích đủ điều. Chưa hết, con ông A con copy hình ảnh của tôi đăng zalo để nhục mạ tôi trên mạng xã hội, và con đăng nhiều lời chửi mắng mẹ con và gia đình tôi! Tôi có chụp lại những lời chửi mắng, và con ông A khi chửi tôi cũng ghi rõ nơi tôi làm việc (trường mầm non).

Với hành vi như vậy, tôi có được khởi tố mẹ con của ông A hay không? Mong luật sư giải đáp và hướng dẫn hướng giải quyết giúp cho tôi. Bởi khi con ông A đăng hình tôi mà nhục mạ tôi thì một phần cũng làm ảnh hưởng danh dự của nơi tôi làm việc (trường mầm non). Tôi muốn khởi tố về hành vi gì là đúng theo luật? Và tôi cũng có giữ lại những tin nhắn, hình ảnh lăng mạ tôi trên mạng xã hội.

Tôi thành thật cảm ơn luật sư!

Người gửi: H.N

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự: 1900.6162 .

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê, đối với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp và tư vấn như sau:

1.Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự 2005. 

- Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009.

2. Nội dung tư vấn:

Bộ luật dân sự 2005 có quy định rõ:

"Điều 37. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín  

Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ."

Do vậy, có thể thấy danh dự, nhân phẩm, uy tín là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân, quyền nhân thân này luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, Bộ luật dân sự 2005 cũng có quy định:

"Điều 25. Bảo vệ quyền nhân thân

Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

1. Tự mình cải chính;

2. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;

3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại."

Khi xét thấy hành vi của các đối tượng nêu trên đã vi phạm đến quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của bạn, đồng thời có đầy đủ chứng cứ xác minh, thì bạn có thể yêu cầu các đối tượng nêu trên hoặc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc họ chấm dứt các hành vi vi phạm pháp luật này, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại một cách thỏa đáng.

Trong trường hợp xét thấy các hành vi vi phạm pháp luật trên có mức độ nghiêm trọng hay gây ra hậu quả lớn, bạn có thể làm đơn khởi tố để các cơ quan chức năng xem xét các đối tượng trên có phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội danh sau hay không:

"Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

A) Phạm tội nhiều lần;

B) Đối với nhiều người;

C) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

D) Đối với người thi hành công vụ;

Đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

C) Đối với nhiều người;

D) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

Đ) Đối với người thi hành công vụ;

E) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê