(Hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại Việt Nam 2005)? Điều này có cần thiết không khi giữa 2 loại Hợp đồng này có nhiều điểm tương đồng nhau?

2) Việt Nam chưa trở thành thành viên của Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, vậy khi thực hiện giao dịch Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có 1 bên là thương nhân Việt Nam thì Hợp đồng này phải tuân thủ theo quy định luật Việt Nam hay Công ước Viên?

Mong nhận được câu trả lời.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi:  Nguyễn Thị Tuyết Mai

 >> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào chị! Với câu hỏi của chị, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ Luật Dân Sự 2005 

Luật Thương Mại 2005 

Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)

1. Vì sao phải phân chia thành Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước (Hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại Việt Nam 2005)?
 Điều này có cần thiết không khi giữa 2 loại Hợp đồng này có nhiều điểm tương đồng nhau?

Về vấn đề này thì Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như Hợp đồng mua bán hàng trong nước đều có nội dung, hình thức và đặc điểm tương đồng nhau như hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung. Cụ thể:

Thứ nhất, về nội dung thì Hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng.

Thứ hai, về hình thức, theo Điều 24 Luật Thương mại Việt Nam 2005, hai loại hợp đồng trên đều có hình thức tương đương Hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung: "1. Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói,  bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể; 2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập bằng văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

Thứ ba, về đặc điểm, hai loại hợp đồng này đều là hợp đồng ưng thuận, có tính đền bù và là hợp đồng song vụ.

Tuy nhiên, căn cứ vào đặc điểm chủ thể, đối tượng, nơi giao kết hợp đồng mà phân ra thành Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 không có quy định cụ thể về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng căn cứ theo Điều 826 thuộc Phần thứ 7 về "Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài" của Bộ Luật Dân Sự 2005 thì một hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi có một trong những yếu tố sau: 

- Về chủ thể, hợp đồng được giao kết bởi các bên không cùng quốc tịch (Giữa một bên có quốc tịch Việt Nam và một bên có quốc tịch khác).

- Về đối tượng, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang tồn tại ngoài lãnh thổ Việt Nam.

- Về nơi giao kết hợp đồng, hợp đồng được giao kết tại nước ngoài, có thể là tại nước của bên giao kết mang quốc tịch khác Việt Nam, hoặc tại nước thứ ba. 

Dựa vào những yếu tố trên, có thể thấy, với Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì các bên giao kết hợp đồng rất dễ gặp phải các rủi ro như xung đột pháp luật giữa hai bên thực hiện hợp đồng, hoặc do các rủi ro khác trong quá trình vận chuyển, thanh toán,... dẫn đến những tranh chấp. Chính vì thế, khi giao kết hợp đồng, các bên cần cân nhắc kĩ lưỡng và soạn thảo ra một bản hợp đồng chi tiết và rõ ràng để tránh những rủi ro trong tương lai. Nên việc quy định và phân loại đối với hai loại hợp đồng trên là điều cần thiết. Về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luật Thương Mại Việt Nam 2005 cũng quy định rõ tại khoản 2 Điều 27 như sau: "Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

 

2. Việt Nam chưa trở thành thành viên của Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, vậy khi thực hiện giao dịch Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có 1 bên là thương nhân Việt Nam thì Hợp đồng này phải tuân thủ theo quy định luật Việt Nam hay Công ước Viên?

Trong Luật Thương Mại Việt Nam 2005 chưa có quy định cụ thể về việc sẽ phải áp dụng, tuân thủ quy định pháp luật nào khi giao kết Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên căn cứ theo Điều 834 Bộ Luật Dân sự 2005 về Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Luật Minh Khuê có thể giải đáp như sau:

- Hình thức của hợp đồng sẽ phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm hình thức hợp đồng, thì vẫn có hiệu lực về hình thức hợp đồng tại Việt Nam, nếu hình thức hợp đồng đó không trái với quy định pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng cũng sẽ được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác. Trong trường hợp hợp đồng không ghi rõ nơi thực hiện hợp đồng, thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Như vậy, với việc Việt Nam hiện chưa trở thành thành viên của Công ước Viên 1980 (CISG) về mua bán hàng hóa quốc tế, nên việc thực hiện giao dịch Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có 1 bên là thương nhân Việt Nam thì Hợp đồng này có thể sẽ phải tuân thủ theo quy định pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật của nước bên chủ thể giao kết còn lại. Hoặc vẫn có thể sẽ phải tuân theo quy định của Công ước Viên nếu hợp đồng được giao kết tại nước của bên chủ thể giao kết còn lại (không phải Việt Nam) là thành viên của Công ước Viên và luật được áp dụng đối với việc thực hiện hợp đồng là luật của nước này có dẫn chiếu đến Công ước Viên, cụ thể tại điểm b, khoản 1 Điều 1 Công ước Viên 1980 có quy định về điều này. 

Trên đây là những giải đáp của Luật Minh Khuê cho những thắc mắc của chị. Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi đến Công ty chúng tôi!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê

-------------------------------------------------